Chương 90 - Tư Cung Lệnh - Mễ Lan Lady

Tư Cung Lệnh - Mễ Lan Lady

Hoàng đế đem đề nghị của Chân Chân bàn bạc với Kỷ Cảnh Lan. Kỷ Cảnh Lan cũng thấy có thể thực hiện thử vài tháng để xem hiệu quả thế nào, sau khi thảo luận với Quốc Dụng ty đã sửa đổi một số chi tiết thực thi, nhưng việc Ngự trù, Hàn Lâm ty và Nghi Loan ty thẩm định lẫn nhau vẫn giữ nguyên, lệnh cho ba ty này sửa đổi và nộp lại dự toán cho sách lễ, phê duyệt theo quy định mới.

Lần này dự toán nộp lên chi phí giảm mạnh, số tiền báo khống đương nhiên không còn, mà một số khoản chi tiêu đắt đỏ ban đầu cũng bị cắt giảm hoặc thay thế bằng vật tư bình dân. Hoàng đế xem xong cau mày nghi hoặc: "Thế này chẳng phải là quá đà sao?" Lệ Quý phi ngược lại không hề oán trách, nghiêng mình đáp: "Năm nay nhiều châu huyện bị thiên tai, không ít con dân lưu ly khổ sở, cầu một bữa no còn khó, thần thiếp nếu tiêu tốn tiền của khổng lồ làm sách lễ, làm sao có thể yên lòng? Chỉ mong mọi sự giản tiện, dự toán giảm mạnh chính hợp là ý thiếp."

Không chỉ vậy, bà còn tỉ mỉ kiểm tra từng khoản chi phí, đích thân cầm bút gạch bỏ những chỗ cảm thấy chi tiêu quá mức, xong xuôi bảo Chân Chân đến xem, nói với nàng: "Ngươi giúp ta nghĩ xem, còn chỗ nào có thể cắt giảm nữa không."

Chân Chân biết bà không phải làm màu, quả thực muốn tiết kiệm tiền của, bèn xem xét kỹ lại một lượt, đề nghị: "Dự toán cho Khán bàn của yến tiệc vẫn còn khá nhiều. Khán bàn trong quốc yến thường dùng bánh tủy, bánh vòng, bánh hồ, bánh táo, hoặc thịt chín thỏ, dê, gà, ngỗng, xếp chồng chất tầng tầng lớp lớp như núi, bày giữa tiệc để trang trí, mà khách khứa coi việc ăn đồ trong Khán bàn là hành vi thất lễ, tuyệt đối sẽ không ăn. Số lượng Khán bàn rất lớn, tốn kém không ít, làm cũng rất mất công, nhưng trước khi lên món chính thức lại bị dọn xuống, cuối cùng phần lớn sẽ bị vứt bỏ, gây lãng phí cực lớn, vì vậy, khoản này hoàn toàn có thể cắt giảm."

Lệ Quý phi cho rằng lời Chân Chân có lý, nhưng Hoàng đế do dự, nói: "Khán bàn tuy không để ăn, nhưng có thể thể hiện sự phong phú thịnh soạn của yến tiệc, nếu cắt giảm quá nhiều thì cũng quá keo kiệt, khó mà thể hiện sự quý trọng của tiệc sách lễ."

"Có một cách ạ." Chân Chân nói, "Năm xưa nô tỳ ở núi Vũ Di theo Tuyên Nghĩa lang học trù nghệ, thấy ngài ấy vào dịp năm mới dùng tùng trúc mai và cam quýt làm Khán bàn trước gia yến, bày biện trang trí theo phương pháp cắm hoa, hình dáng có thể lớn có thể nhỏ. Nhỏ thì bày trên bàn, lớn thì dùng cành tùng ghép thành cây tùng cổ thụ, điểm xuyết hoa quả, có thể đặt giữa sân, không khí hoành tráng. Trong Ngự uyển hoa cỏ rất nhiều, chỉ cần cắt tỉa sơ qua là có thể dùng cho yến tiệc, sau tiệc Khán bàn có thể ban cho các cung làm đồ bày biện tái sử dụng, sẽ không đến nỗi lãng phí."

Lệ Quý phi mường tượng cảnh tượng Chân Chân mô tả, mỉm cười: "Tùng trúc mai thanh nhã, ngụ ý cũng tốt, thêm cam quýt vàng óng càng thêm sung túc. Có Khán bàn như vậy, yến tiệc cũng trở nên phong nhã hơn."

Hoàng đế cười nói: "Như vậy rất tốt, chỉ là yến tiệc cần Khán bàn khá nhiều, muốn làm như vậy, không tránh khỏi làm phiền Tuyên Nghĩa lang, sẽ vất vả quá rồi."

Chân Chân nghĩ ngợi, nói: "Có thể mời Tuyên Nghĩa lang thiết kế vài mẫu Khán bàn như vậy, rồi dạy cho nội thị của Hàn Lâm tư, Khán bàn cỡ vừa và nhỏ trong tiệc có thể để họ hoàn thành, chỉ có cây tùng cổ thụ giữa sân, độ khó rất lớn, e là phải mời Tuyên Nghĩa lang đích thân làm."

Hoàng đế thấy khả thi, bảo Chân Chân hôm sau xuất cung đi tìm Lâm Hoằng, bàn bạc với chàng việc này, lại lệnh cho Sử Hoài Ân dẫn hai nội thị hộ tống dọc đường.

Nơi ở Hoàng đế ban cho Lâm Hoằng khác biệt với mọi người, không phải quan xá gần cung thành, mà nằm ở phía Tây Bắc trên núi Phượng Hoàng, nghe nói là một khu nhà vườn nhã nhặn lưng chừng núi. Hoàng đế nói biết Lâm Hoằng thích yên tĩnh, nơi đó hẳn là khá hợp với chàng.

Hôm sau Chân Chân ngồi xe bò, dưới sự hộ tống của đám người Sử Hoài Ân đi đến nơi ở của Lâm Hoằng. Một nội thị đ.á.n.h xe cho Chân Chân, Sử Hoài Ân và một người khác mỗi người cưỡi một con ngựa, một trước một sau đi hai đầu xe. Rạng sáng hôm nay mưa to, đường dưới núi trơn trượt, thỉnh thoảng nước mưa đọng trên lá cây rơi xuống, lộp bộp trên nóc xe. Đi đến bên một sườn núi, Chân Chân bỗng nghe trên núi truyền đến tiếng cành cây dây leo gãy răng rắc, vén rèm nhìn lên, kinh hoàng thấy một tảng đá núi tròn vo khổng lồ đang lăn từ trên đỉnh xuống, lao thẳng về phía xe bò.

Chân Chân không kịp nghĩ nhiều, lập tức đạp tung cửa xe, nhanh chóng nhảy ra ngoài. Vì xe bò vẫn đang di chuyển, cú nhảy này khiến chân trái nàng bị trẹo, ngã xuống đất. Nàng không dám dừng lại, dùng sức bò về phía trước vài bước, rất nhanh sau lưng vang lên tiếng rầm trời, tảng đá lớn lăn xuống đã đập nát chiếc xe, con bò cũng bị đập gãy chân sau, ngã vật xuống đất không dậy nổi.

Sử Hoài Ân và hai nội thị thì không sao, nhưng đột nhiên thấy biến cố này, đều sợ đến mặt cắt không còn giọt máu, nhất thời ngoài việc ghìm ngựa dừng lại cũng không biết ứng phó thế nào. Chân Chân còn chưa đứng dậy được, lại nghe phía sau đường tiếng vó ngựa dồn dập, quay đầu nhìn lại, chỉ thấy một con ngựa cao to mất cương đang điên cuồng lao về phía nàng, trong nháy mắt đã đến ngay trước mắt, mắt thấy sắp giẫm đạp lên người nàng.

Đám Sử Hoài Ân vẫn chưa hoàn hồn sau vụ đá lở, mà ngựa phi quá nhanh, đã không kịp cứu Chân Chân. Chân Chân cũng không còn thời gian né tránh, chỉ đành đau khổ nhắm mắt, bất lực chờ đợi cú va chạm của con ngựa điên.

Ngay lúc nàng nhắm mắt, một con chim ưng săn mồi bỗng lao xuống xoay tròn, mổ vào mắt con ngựa đang phi. Con ngựa bất ngờ bị tấn công một mắt, dừng bước giơ cao vó trước, hí vang trời, chim ưng vẫn không ngừng nghỉ, tiếp tục mổ vào đầu ngựa. Tiếng ngựa hí càng thêm thê lương, bỗng nhiên quay đầu, phóng ngược về hướng nó chạy tới. Chim ưng vẫn muốn đuổi theo, phía trước đường truyền đến một tiếng còi, chim ưng liền quay đầu, bay về phía tiếng còi phát ra.

Sử Hoài Ân thấy vậy thở phào nhẹ nhõm, lập tức xuống ngựa, đỡ Chân Chân dậy.

Phía trước có một đoàn người cưỡi ngựa chậm rãi đi tới, Chân Chân nhận ra người dẫn đầu là Thái t.ử Triệu Tích, theo sau là hơn ba mươi nội thị và cấm vệ. Bên cạnh phía sau chàng có một người đàn ông chừng bốn năm mươi tuổi, mặc áo gấm rộng, đầu quấn khăn vải dệt phiên bang, mũi cao mắt sâu. Người này dáng vẻ khá đẫy đà, ăn mặc sang trọng, cũng mang theo hơn mười tùy tùng, nhìn tướng mạo cách ăn mặc, rõ ràng không phải người Trung thổ. Con chim ưng săn mồi lúc nãy đang đậu trên vai ông ta, hẳn là do ông ta nuôi dưỡng.

Chân Chân hành lễ với Thái tử, cảm ơn chàng kịp thời cứu giúp. Thái t.ử nhìn người bên cạnh, mỉm cười nói với Chân Chân: "Cứu cô thực ra là vị Thừa Tín lang này."

Thừa Tín lang Bồ Lộc Tân Chân Chân cũng từng nghe Hoàng đế nhắc tới, là một thương nhân giàu có người Đại Thực (Ả Rập), hơn hai mươi năm trước đã dùng thuyền chở đầy hương liệu t.h.u.ố.c men từ Đại Thực đến Tuyền Châu buôn bán, chỉ riêng một thuyền nhũ hương (trầm hương) nộp thuế cho Tuyền Châu Thị Bạc Ty (Sở Thuế vụ cảng biển) đã lên tới ba mươi vạn quan tiền, vì thế Tiên đế phong cho ông ta chức quan tòng cửu phẩm "Thừa Tín lang".

"Thừa Tín lang năm xưa vào kinh triều kiến Tiên đế, chính là Hoàng t.ử khi đó, tức Quan gia hiện nay tiếp dẫn. Lần này từ Tuyền Châu đến, Quan gia cũng lệnh cho ta tiếp đãi. Ta đón ông ấy về dịch quán, đi ngang qua đây, bỗng thấy ngựa điên sắp làm người bị thương, thế là Thừa Tín lang lệnh cho chim ưng bay đi cứu, không ngờ người được cứu lại là Ngô Chưởng thiện." Thái t.ử giải thích.

Chân Chân lập tức hành lễ cảm tạ Bồ Lộc Tân. Bồ Lộc Tân sống ở Tuyền Châu nhiều năm, tiếng Hán đã nói rất lưu loát, đáp lễ xong liên tục cười nói với Chân Chân: "Không cần khách sáo, chuyện nhỏ thôi, chuyện nhỏ thôi."

Thái t.ử hỏi mục đích chuyến đi này của Chân Chân, Chân Chân đem chuyện Quan gia muốn nhờ Lâm Hoằng thiết kế Khán bàn kể lại. Thái t.ử lại hỏi kỹ quá trình đá rơi đập vỡ xe bò, trầm ngâm rồi nói: "Rạng sáng mưa to, đá rơi còn có thể nói là do sạt lở đất, nhưng con ngựa điên kia có yên cương, rõ ràng không phải ngựa hoang, lại phi đến ngay sau khi đá rơi, rất khó nói không phải có người cố ý sắp đặt. Để an toàn, hay là để ta đưa cô đến chỗ ở của Tuyên Nghĩa lang."

Chân Chân nói lo ngại làm lỡ hành trình của Thừa Tín lang, Bồ Lộc Tân cười nói: "Không sao không sao, ta đã lâu không đến Lâm An, đang muốn đi dạo khắp nơi, ta đi cùng các vị luôn."

Thế là đoàn người chuyển hướng đến chỗ ở của Lâm Hoằng. Đến dưới núi, để tránh làm phiền Lâm Hoằng quá mức, Thái t.ử lệnh cho đa số tùy tùng đợi ở quán rượu nơi này, tự mình dẫn Chân Chân, Bồ Lộc Tân, Sử Hoài Ân và hai ba cận thị lên núi.

Viện lạc trong núi này của Lâm Hoằng phong cách cũng tương tự Vấn Tiều dịch, trúc mai bao quanh, có thể nghe tiếng gió tùng trong u cốc, chỉ là nhỏ hơn một chút, không có ao sen hạc tiên, nhưng trong sân có một mạch suối núi, nước suối chảy ra từ khe đá, Lâm Hoằng dùng tre chẻ đôi nối lại dẫn nước, xây đá thành một hồ nhỏ, nước suối róc rách, rất có ý vị.

Lâm Hoằng lần trước ở vườn Tụ Cảnh trò chuyện với Thái t.ử rất vui vẻ, lần này gặp lại cũng rất hân hoan. Chân Chân nói xong chuyện Khán bàn với chàng, Lâm Hoằng nhận lời ngay. Thấy trời sắp trưa, bèn mời mọi người. ở lại dùng bữa.

Món chính trong bữa tiệc là "Sơn Chử Dương" (Dê núi nấu), là thịt dê hầm suông với hành, tiêu, nhìn qua chẳng có gì khác lạ, nhưng mọi người nếm thử mới thấy thịt dê hầm cực kỳ mềm thơm, ngay cả xương cũng mềm nhũn. Thái t.ử khen ngợi hương vị, hỏi Lâm Hoằng cách nấu, Lâm Hoằng nói: "Giã nát vài hạt hạnh nhân thật, bỏ vào nồi đất, dùng lửa ngọn nấu, thịt dê sẽ dễ mềm nhừ."

Ngoài ra Lâm Hoằng còn lấy nước hầm dê nấu cùng với củ mài, hạt dẻ thái lát, gọi là "Kim Ngọc Canh" (Canh vàng ngọc), lấy ý củ mài như ngọc, hạt dẻ tựa vàng. "Củ mài bổ tỳ, dưỡng vị, ích phế, hạt dẻ có thể bổ thận cường gân, nay tiết trời ngày một lạnh, thịt dê canh dê có thể chống phong hàn, rất thích hợp dùng Kim Ngọc Canh." Lâm Hoằng nói.

Mọi người đều khen món canh này sắc vị đều tuyệt, lại có thể dưỡng sinh. Riêng Bồ Lộc Tân nhìn chằm chằm bát canh trước mặt mình hồi lâu, bỗng hỏi Lâm Hoằng: "Tuyên Nghĩa lang, món canh này là ai dạy ngài làm?"

Lâm Hoằng đáp: "Là gia phụ nhiều năm trước tùy tay ghi chép lại, kẹp trong sách, mấy năm trước ta vô tình tìm thấy trong đống sách người để lại."

"Khéo thật đấy," Bồ Lộc Tân cười nói, "Ta hơn hai mươi năm trước đến Lâm An, khi đó Quan gia còn là Hoàng tử, vừa gặp ta đã như quen thân, chúng ta thường cùng đi săn bắn. Có một ngày, ngài ấy đưa ta đến một viện lạc trong núi, gặp gỡ hai người bạn của ngài ấy, trong đó một người là thái y, người kia là một văn sĩ rất tuấn tú..." Nói đến đây ông ta cố ý quan sát Lâm Hoằng, lại cười nói, "Nghi dung phong độ có vài phần giống Tuyên Nghĩa lang... Hôm đó người nấu cơm cho chúng ta là nương t.ử của thái y, trong các món ăn có món Kim Ngọc Canh này, vị văn sĩ kia rất thích, hỏi kỹ cách làm, nương t.ử thái y nói y hệt như những gì Tuyên Nghĩa lang vừa nói."

Thái t.ử nghe xong mỉm cười nhìn Lâm Hoằng, nói: "Vị văn sĩ kia đã giống Tuyên Nghĩa lang, Tuyên Nghĩa lang lại nói cách làm Kim Ngọc Canh là do lệnh tôn ghi chép, chẳng lẽ vị văn sĩ Thừa Tín lang gặp năm xưa chính là lệnh tôn?"

Lâm Hoằng gượng cười, nghiêng mình đáp: "Gia phụ phúc mỏng, sao có diễm phúc làm bạn với Kim thượng... Huống hồ, gia phụ cũng chẳng quen biết vị thái y nào cả."

Nói xong chàng đưa tay định nhấc bình rượu trên bàn con của mình lên, trên mặt vẫn giữ nụ cười nhạt, nhưng Chân Chân nhận thấy tay cầm bình rượu của chàng hơi run rẩy.

Lâm Hoằng nhấc bình rượu lên, phát hiện rượu bên trong không đủ, sai A Triệt đi lấy rượu, Bồ Lộc Tân lại nói: "Lần này ta cũng mang theo vài loại rượu, hương vị khác với rượu ngon Đại Tống, vừa hay nhân cơ hội tốt này mời chư vị cùng thưởng thức."

Ông ta lập tức sai tùy tùng phía sau đi lấy rượu, lát sau tùy tùng mang rượu tới, Bồ Lộc Tân đích thân nhận lấy, đưa cho Lâm Hoằng, giới thiệu từng loại: "Đây là rượu ủ từ nước nho, màu như đá quý, hương quả mê người, uống vào ôn hòa ngọt ngào, nhưng uống nhiều cũng dễ say... Đây là 'Tư Tô Tửu' ủ từ hương d.ư.ợ.c nấu đường, mùi thơm nức mũi, nhưng độ rượu khá mạnh... Đây là rượu ủ từ mật ong và hương dược, gọi là 'Mi Tư Đạt Hoa Tửu' (Rượu Mistedah?), ngọt ngào thơm nồng hơn Tư Tô Tửu, uống vào mùa thu đông rất ấm người, cũng không gắt lắm, hương vị êm dịu."

Lâm Hoằng ghi nhớ từng loại, rồi lần lượt hỏi Thái tử, Bồ Lộc Tân, Sử Hoài Ân xem muốn uống loại nào, sau đó bảo A Triệt rót cho họ, duy chỉ có Chân Chân là chàng không hỏi, mà trực tiếp ra hiệu cho A Triệt rót cho nàng một ly Mi Tư Đạt Hoa Tửu.

Thái t.ử để ý thấy sự khác biệt đó, không khỏi cười hỏi Lâm Hoằng: "Tuyên Nghĩa lang và Ngô Chưởng thiện quen thân lắm sao?"

Chân Chân nghe vậy sững sờ, lúc này mới nhớ ra quan hệ thầy trò giữa Lâm Hoằng và nàng, nàng chỉ mới nói cho Hoàng đế và Lệ Quý phi biết, Thái t.ử hẳn là chưa biết. Mà trước đó Hoàng đế phái nàng xuất cung tìm Lâm Hoằng, để tránh cung nhân bàn tán, mục đích thực sự cũng giữ bí mật không công bố, bên ngoài chỉ nói phái Chân Chân xuất cung tìm kiếm nguyên liệu nấu ăn quý hiếm, cho nên Thái t.ử cũng không biết chuyện này.

Lâm Hoằng còn đang cân nhắc trả lời thế nào, Sử Hoài Ân bỗng mở miệng, thay chàng đáp: "Tuyên Nghĩa lang và Ngô Chưởng thiện có tình 'Toái Ngọc Tử' (Mảnh ngọc vụn), có thể gọi là quen thân."

Tay Chân Chân cầm ly rượu Mi Tư Đạt Hoa run lên một cái, ly rượu suýt chút nữa rơi khỏi lòng bàn tay. Rượu này còn chưa uống, hai má nàng đã đỏ bừng như say. Mà Lâm Hoằng cũng quay đầu nhìn Sử Hoài Ân, độ mở của mắt rõ ràng lớn hơn bình thường, đủ thấy cũng vô cùng kinh ngạc.

Cả hai lúc đó đều nghĩ: Sao ông ta biết được?

Mà Sử Hoài Ân đứng dậy vái chào Thái tử, nhỏ nhẹ giải thích: "Lần trước ở vườn Tụ Cảnh, Tuyên Nghĩa lang đề nghị treo toái ngọc t.ử trong vườn hoa bên ngoài tẩm các của Thái hậu, Ngô Chưởng thiện bảo không ổn, hai người có trao đổi vài câu. Lúc đó Điện hạ cũng có mặt, không biết còn nhớ việc này chăng."

Thái t.ử lập tức cười nói: "Nhớ chứ, nhớ chứ, hóa ra là vậy."

Chân Chân lúc này mới thầm thở phào nhẹ nhõm, hiểu rằng Sử Hoài Ân có ý tốt che giấu cho họ, phòng ngừa Thái t.ử truy hỏi ra chuyện nàng và Lâm Hoằng từng lén lút ở bên nhau.

Nhìn sang Lâm Hoằng, chàng cũng có vẻ như trút được gánh nặng, khoảnh khắc ngước mắt nhìn nhau với Chân Chân, trong đáy mắt gợn lên một tầng ý cười nhàn nhạt.