Chương 63 - Tư Cung Lệnh - Mễ Lan Lady

Tư Cung Lệnh - Mễ Lan Lady

Lệ Quý phi khéo léo chuyển lời của Phùng Tịnh tới Hoàng đế. Quan gia thấy Phùng Tịnh kiên quyết từ chối, cũng đành tạm gác chuyện vườn Tụ Cảnh lại không nhắc đến nữa.

Mấy ngày gần đây Lệ Quý phi tinh thần khá hơn, lại bắt đầu làm nữ công, ban đêm thậm chí còn chong đèn làm đến tận khuya. Chân Chân thấy bà đang khâu một đôi lót giày cho nam, thủ pháp thành thục, kỹ nghệ rất cao, từng mũi kim đường chỉ thoăn thoắt ung dung, hoa văn cát tường tinh xảo trên miếng lót giày dần dần hiện ra.

Ban đầu Chân Chân tưởng đôi lót giày này làm cho Quan gia, không ngờ khâu xong Lệ Quý phi gọi nàng lại, sai nàng đem lót giày đến các Thanh Hoa nơi Nhị Đại vương ở.

Thấy Chân Chân vẻ mặt ngạc nhiên, Lệ Quý phi giải thích: "Nhị Đại vương hồi nhỏ dùng lót giày đều là do ta tự tay khâu, sau này ngài ấy lớn, y phục thường dùng đồ đặt làm ở Thượng Phục cục, ta sức khỏe yếu, mắt mũi cũng không tốt lắm, nên không làm nữa. Mấy hôm trước, nghe ngài than phiền lót giày bây giờ đi không êm chân bằng loại ta khâu, ta mới tùy tiện khâu lại một đôi... Đã lâu không làm, tay nghề xuống nhiều quá, ngươi bảo với ngài ấy, cứ dùng tạm đi, lần sau ta sẽ khâu cho ngài ấy đôi tốt hơn."

Chân Chân lĩnh mệnh đến các Thanh Hoa. Lúc này không phải giờ dùng bữa, Phượng Tiên không có trong các, Triệu Ngai đang đọc sách, thấy Chân Chân đến thì mừng rỡ, nhận lót giày xong mời nàng ngồi nghỉ một lát, lại sai người dâng trà. Trà cụ bày ra xong, hắn phất tay cho thị nữ lui xuống, tự mình ngồi đối diện Chân Chân, đích thân điểm trà cho nàng.

Chân Chân trong lòng vẫn nhớ chuyện của Phùng Tịnh, một lòng muốn thay cô ấy dò hỏi nguyên nhân Thái t.ử dứt tình đoạn nghĩa, bèn hỏi Triệu Ngai có biết chuyện này không. Triệu Ngai nói: "Ta tuy cùng Thái t.ử là anh em cùng mẹ, Đại ca đối đãi với ta rất thân thiết, nhưng vì ta từ nhỏ do Lệ Quý phi nuôi nấng, huynh ấy với ta cũng không phải chuyện gì cũng nói, càng không bàn đến người nhà Quý phi. Ẩn tình giữa huynh ấy và Phùng Tịnh, những gì ta biết chưa chắc đã nhiều hơn nàng đâu."

Chân Chân im lặng, lát sau than: "Hiện giờ Phùng Tịnh bị lời đồn đãi làm khổ, cảnh ngộ không tốt, chuyện cũ với Thái t.ử thành tâm bệnh, cả ngày u sầu không vui... Đám nam nhân các người, cứ thấy cô nương xinh đẹp là muốn trêu ghẹo, lúc hứng lên thì ra sức quấn quýt, hết hứng rồi thì nói đi là đi, hại con gái người ta bị người đời chê cười mỉa mai, các người có từng thấy áy náy chút nào không?"

Triệu Ngai vừa đ.á.n.h bông bọt trà vừa nói: "Trong chuyện này, huynh ấy là huynh ấy, ta là ta, sao lại gộp ta và huynh ấy thành 'các người' được?"

Chân Chân cười khẩy: "Nếu luận về độ chững chạc, ngài còn kém xa Thái tử. Nếu luận về cái tiềm năng 'chơi chán rồi bỏ', e rằng ngài còn hơn người ta ấy chứ."

Triệu Ngai không nhịn được cười: "Ta đây còn chưa 'chơi' đâu nhé, nàng đã lo sau này bị bỏ rồi sao?"

Chân Chân cau mày lườm hắn: "Đừng có lôi ta vào, ta với ngài có..."

"Ta hiểu, ta hiểu," Triệu Ngai vẽ tranh thủy đan thanh trên mặt trà, nói, "Nàng thấy cảnh ngộ của Phùng Tịnh, nên đến thám thính ta. Tâm tư Đại ca ta không biết, chỉ có thể hứa với nàng, ta sẽ không đối xử với nàng như huynh ấy đối xử với Phùng Tịnh..." Chợt hắn lại cười, "Chẳng biết tại sao, thấy nàng lo lắng như thế, trong lòng ta lại thấy ngọt ngào thế nhỉ."

Chân Chân cạn lời nhìn trời, thầm nghĩ trên đời sao lại có kẻ mặt dày vô sỉ đến thế này.

Triệu Ngai hoàn thành bức thủy đan thanh, đưa chén trà cho Chân Chân. Chân Chân thấy trên mặt nước trà hiện lên hình ảnh hai bờ núi xanh bên hẻm núi.

"Nguyện nàng và ta đời này như đôi bờ núi xanh kia, nhìn nhau mãi không chán." Hắn mỉm cười nói.

Chân Chân đang do dự có nên uống chén trà này không, chợt nghe ngoài cửa các có người thông báo, nói Thái t.ử giá lâm. Tiếng vừa dứt, tiểu hoàng môn đứng bên ngoài sảnh đường nơi họ đang ngồi lại cao giọng báo thêm lần nữa, xem ra Thái t.ử đã đi đến giữa sân rồi.

Triệu Ngai và Chân Chân đồng thời đứng dậy, lặng lẽ nhìn nhau một cái, trong lòng đều có chút bất an khó tả trước chuyến viếng thăm đột ngột của Thái tử. Huống hồ nội nhân và Thân vương ngồi đối diện uống trà, nói ra cũng là chuyện không hợp quy củ.

Triệu Ngai liếc nhìn tấm bình phong bên cạnh, ra hiệu cho Chân Chân trốn ra sau đó. Chân Chân làm theo, lui về sau bình phong.

Thái t.ử còn chưa vào trong, Triệu Ngai đã ra ngoài nghênh đón, hai bên hành lễ. Triệu Tích mỉm cười bảo Triệu Ngai, mình vừa từ điện Phúc Ninh ra, nhớ tới đã lâu không trò chuyện cùng đệ đệ, nên đặc biệt ghé thăm. Triệu Ngai tạ ơn, dẫn huynh trưởng vào trong sảnh.

Triệu Tích thấy chén bát trên bàn, bèn hỏi: "Nhị đệ có khách à?"

Triệu Ngai đáp: "Không có. Vừa nãy đệ ngồi một mình tập vẽ thủy đan thanh, nên bày chút trà cụ."

Nói đoạn sai người đổi chén mới, tự mình điểm trà mời huynh trưởng. Triệu Tích đợi thị nữ lui ra, hàn huyên với Triệu Ngai vài câu, rồi thu lại nụ cười, hỏi Triệu Ngai: "Ta nghe nói, Nhị đệ gần đây qua lại rất thân thiết với nội nhân Ngô Chân Chân, thường đến các Lai Phượng thăm cô ấy, đêm Trung thu còn từ sạp hàng Diên Quế lẻn ra ngoài, đưa cô ấy lên núi Phượng Hoàng ngắm trăng."

Triệu Ngai ngạc nhiên, rồi cười: "Đại ca làm sao mà biết?"

Triệu Tích không đáp, chỉ nói: "Đệ tuy chưa xuất các lập phủ, nhưng dù sao cũng không còn nhỏ, qua lại với nội nhân, luôn phải biết tránh hiềm nghi. Nếu cứ lén lút gặp gỡ thường xuyên, bất luận là với đệ hay với cô ấy, đều là chuyện tổn hại thanh danh. Đệ sẽ bị người đời nói là 'không giữ gìn hạnh kiểm, cử chỉ khêu gợi', còn cô ấy... sẽ bị người ta nghi ngờ trinh tiết. Một cô nương chưa chồng, chịu phải lời đồn như vậy, rất có thể vận mệnh nửa đời sau coi như bị hủy hoại."

Triệu Ngai đứng dậy đi ra cửa, cho lui hết đám hoàng môn bên ngoài, rồi quay lại ngồi xuống, trầm ngâm giây lát, cười nhạt với Triệu Tích: "Hóa ra Đại ca cũng biết điều đó."

Mặt Triệu Tích thoáng ửng đỏ, trong lòng hiểu đệ đệ đang ám chỉ Phùng Tịnh. Chàng cũng không phủ nhận, im lặng hồi lâu rồi nói với Triệu Ngai vẻ trịnh trọng: "Đệ đừng phạm phải sai lầm của ta năm xưa."

Triệu Ngai nói: "Đại ca không cần lo lắng quá, nếu cô ấy vì đệ mà tổn hại danh dự, đệ tự sẽ chịu trách nhiệm, cho cô ấy một danh phận."

"Như thế thì tốt," Triệu Tích nhàn nhạt nói, "Chắc hẳn Lệ Quý phi sẽ vui vẻ mà tác thành thôi."

"Cho nên, Đại ca năm xưa là vì muốn làm trái ý Quý phi, mới đối xử với Phùng Tịnh như vậy."

Triệu Tích hoàn toàn không ngờ đệ đệ lại nhắc đến Phùng Tịnh trực tiếp như thế, không vui nói: "Đệ đang nói hươu nói vượn cái gì vậy?"

"Đệ không nói bậy." Triệu Ngai dừng động tác điểm trà, nhìn thẳng vào huynh trưởng, "Đại ca gặp gỡ Phùng Tịnh nhiều lần, với tâm tư và bản tính của Đại ca, sao có thể không tra rõ lai lịch của cô ấy mà đã qua lại thân mật. Trong cung đồn rằng, huynh biết Phùng Tịnh là cháu gái Quý phi mới quyết định bỏ rơi cô ấy, chuyện đó là không thể nào."

Triệu Tích tránh ánh mắt của hắn, không phản bác.

"Bởi vậy, đệ chỉ có thể rút ra một kết luận: Huynh mượn Phùng Tịnh để cố ý trả thù Lệ Quý phi." Thấy Triệu Tích im lặng không đáp, Triệu Ngai không kìm được cười khổ, "Đại ca hận Quý phi đến thế sao? Bà ấy chưa từng hại mẫu thân, cho dù trước sau khi mẫu thân qua đời bà ấy được cha sủng ái, nhưng đó là chuyện bà ấy có thể từ chối sao? Bà ấy luôn cẩn trọng hầu hạ cha, dốc lòng nuôi nấng đệ khôn lớn, bao nhiêu năm nay luôn cung kiệm khiêm nhường, huynh lẽ nào không nhìn ra? Bà ấy đâu phải hạng người hồ ly mê hoặc tranh sủng."

Triệu Tích nói: "Bà ta là người thế nào, chưa chắc đã viết lên mặt."

"Bà ấy chưa chắc viết lên mặt, nhưng đệ có thể dùng tâm để nhìn." Triệu Ngai nói, "Khi mẫu thân hoăng thệ đệ còn nhỏ tuổi, ấn tượng mơ hồ, tình mẫu t.ử cảm nhận được, phần lớn là do Lệ Quý phi cho đệ. Sau khi mẫu thân qua đời, bà ấy liền đón đệ về bên cạnh, may áo bón cơm, việc gì cũng tự tay làm, còn nhiều hơn cả v.ú nuôi của đệ. Mỗi một món ăn thức uống, bà ấy đều nếm thử độ ấm lạnh rồi mới cho đệ dùng; mỗi một tấm áo mới, bà ấy đều tự mình kiểm tra sửa sang sao cho vừa người nhất, thậm chí tự tay cắt từng cái chỉ thừa rồi mới cho đệ mặc." Nói đoạn lấy ra đôi lót giày vừa nhận lúc nãy cho Triệu Tích xem, "Còn cả lót giày nữa... Huynh từng thấy phi tần nào chịu cúi đầu cụp mắt khâu lót giày cho con của người khác chưa? — Quý phi làm đấy. Lót giày từ nhỏ đến lớn của đệ đa phần là do bà ấy làm, chỉ vì đệ khen một tiếng tốt, bà ấy hiện giờ vẫn bất chấp thân thể gầy yếu chong đèn khâu cho đệ... Đệ còn nghe v.ú nuôi kể, Lệ Quý phi từng m.a.n.g t.h.a.i một đứa con, khi t.h.a.i nhi trong bụng được mấy tháng, bà ấy ra Hậu uyển xem đệ chơi đùa... Lúc đó là mùa đông, tuyết vừa rơi, đệ chạy nhảy trong tuyết, bỗng trượt chân, loạng choạng sắp ngã, Quý phi cuống cuồng chạy tới đỡ đệ, kết quả chính mình ngã một cú thật đau, vì thế mà phải nằm trên giường dưỡng t.h.a.i rất lâu, đáng tiếc đứa bé ấy cuối cùng vẫn không giữ được, ngày sinh ra liền tắt thở, mà Quý phi về sau cũng không thể sinh nở được nữa."

Triệu Tích mấp máy môi, dường như muốn nói gì đó, nhưng Triệu Ngai giơ tay ngăn lại, tiếp tục nói: "Nhưng bà ấy coi đệ như con đẻ. Đại ca còn nhớ năm đệ mười một tuổi bị bệnh nặng, suýt chút nữa thì c.h.ế.t không? Lúc đó Quý phi ngày đêm túc trực bên giường đệ, lòng nóng như lửa đốt. Lúc đệ tỉnh bà ấy luôn cười an ủi đệ, nghĩ đủ cách khuyên đệ ăn uống uống thuốc, đệ nhắm mắt lại, bà ấy tưởng đệ ngủ rồi, mới khẽ khàng thút thít... Có một lần đệ nửa đêm tỉnh giấc, thấy bà ấy đứng bên cửa sổ cầu nguyện với trăng, xin thần linh đừng mang đệ đi, bà ấy nguyện ý đem tất cả tuổi thọ còn lại cho đệ. Từ đó về sau, đệ liền hoàn toàn coi bà ấy như mẹ ruột... Mà Đại ca lớn hơn đệ hai tuổi, năm xưa từ chối sự nuôi dưỡng của các Nương tử, lớn lên dưới sự chăm sóc của v.ú nuôi và cận thị, nên cũng chưa từng thấy tấm chân tình này của Quý phi. Quý phi những năm nay, thay quyền quản lý lục cung, có lẽ có chỗ đắc tội với người khác. Nếu có kẻ châm ngòi ly gián, Đại ca e là dễ sinh thành kiến với Quý phi, không thích Quý phi, đệ cũng có thể hiểu được. Chỉ là dù thế nào đi nữa, cũng không nên mượn Phùng Tịnh vô tội để trút oán khí đối với Quý phi. Đại ca xin thứ cho ngu đệ nói thẳng: Người đời đều khen Thái t.ử nhân đức, mà việc Đại ca làm với Phùng Tịnh - một nữ t.ử yếu đuối hiện giờ, quả thực xin lỗi hai chữ ấy."

"Sự thật không phải như đệ suy đoán đâu," Nghe xong một tràng này, Triệu Tích ngước mắt nhìn thẳng vào sự chất vấn của đệ đệ, từng chữ từng chữ nói rõ ràng, "Mà Lệ Quý phi thực sự, cũng chưa chắc đã giống như người đệ quen biết hơn mười năm nay."

Triệu Ngai đáp: "Được thôi, chân tướng thế nào, Quý phi ra sao, còn mong Điện hạ nói rõ."

Triệu Tích cân nhắc mãi, cuối cùng từ từ gật đầu: "Được, đã đệ muốn biết, thì ta nói cho đệ hay..."

Chàng quay đầu nhìn ra chiếc lá vàng đang xoay tròn rơi xuống dưới gốc cây trong sân, cơn giận bị kích lên bởi những lời sắc bén của đệ đệ bắt đầu tan biến, ánh mắt dần trở nên mềm mại: "Như đệ nói, khi ta và Phùng Tịnh qua lại ở vườn Tập Phương, ta đã biết thân phận của nàng ấy... Thực ra, ta đã gặp nàng ấy từ sớm rồi... Lần đầu tiên gặp nàng ấy, là vào năm kia, cũng vào mùa thu lá vàng phủ kín mặt đất như bây giờ."

Triệu Ngai có chút ngạc nhiên, nhưng rất nhanh đã thông suốt: "Quý phi thường mời Phùng Tịnh vào cung chơi, đệ từ nhỏ đã thường gặp cô ấy, Đại ca nếu không cần thiết thì không gặp Lệ Quý phi, mới không biết mặt Phùng Tịnh, nhưng cô ấy thường đi lại trong cung, các người khó tránh có lúc chạm mặt."

Triệu Tích ngầm thừa nhận, lát sau nói tiếp: "Hành lang Cẩm Yên nối liền Hậu uyển và Đông cung. Sau tết Trung thu năm kia, một hôm ta định đến điện Phúc Ninh gặp phụ hoàng, vừa từ Đông cung bước vào hành lang Cẩm Yên, liền thấy một thiếu nữ mặc y phục màu đỏ từ phía trước dọc theo hành lang chậm rãi đi tới... Tay trái nàng ấy đỡ tập bản vẽ và thước dây, tay phải cầm một cây bút chì, thỉnh thoảng dừng lại xem xét đo đạc chi tiết trong hành lang, rồi ghi chép vào tập vẽ..."

Chàng nhớ lại đôi mắt của nàng khi ấy, trong veo và sáng ngời, xuyên qua từng vệt nắng rọi qua cửa sổ gỗ dài in lên mặt, kiên trì tìm kiếm những chi tiết và số liệu nàng cần. Nàng sinh ra vốn đã tú lệ, nhưng khoảnh khắc ấy, thứ khiến trái tim chàng rung động không hẳn là dung nhan nàng, mà là đôi mắt tràn đầy khao khát tri thức kia. Chàng chưa từng nghĩ, một người con gái khi chăm chú vào những việc trông có vẻ khô khan vô vị này, lại có thể động lòng người đến thế.

"Ta bèn dừng lại giữa hành lang, đợi nàng ấy từng bước đi tới gần. Mà nàng ấy luôn tập trung vào việc đo đạc ghi chép, hoàn toàn không nhận ra sự tồn tại của ta, cho đến khi vẽ xong một mẫu, quay người lại va phải ta, mới giật mình kinh hãi, vội vàng hành lễ xin lỗi ta." Triệu Tích hồi tưởng lại tình cảnh lúc đó, bất giác nở nụ cười nhẹ, "Ta bảo không sao, hỏi nàng ấy có cần ta giúp một tay không, nàng ấy bảo đã đi đến cuối đường rồi, không cần nữa. Lại thi lễ một cái, rồi ôm tập thành quả ghi chép của mình, vui vui vẻ vẻ quay người rời đi... Nàng ấy toàn tâm toàn ý chìm đắm trong niềm vui mà việc đo vẽ hành lang Cẩm Yên mang lại, chỉ liếc vội qua ta một cái, ta nghĩ nàng ấy căn bản chẳng quan tâm ta là ai, cũng chẳng nhớ ta trông thế nào... Sau này suy đoán này đã được kiểm chứng khi ta và nàng ấy gặp nhau ở vườn Tập Phương, biểu cảm nàng ấy nhìn ta lúc đó, hoàn toàn như nhìn một người xa lạ."

Triệu Ngai nghe đến nhập thần, lúc này cười hỏi: "Cho nên sau lần đầu gặp ở hành lang Cẩm Yên Đại ca đã dò hỏi lai lịch của cô ấy rồi?"

Triệu Tích gật đầu: "Nữ t.ử biết làm loại chuyện này trong cung có được mấy người? Ta hỏi cái là biết ngay. Qua một thời gian, ở chỗ phụ hoàng cũng thấy được kết quả đo vẽ của cô ấy: Phụ hoàng cho ta xem một bức thiết kế do Phùng Tịnh vẽ, là miêu tả cảnh quan trong Đại nội, hành lang Cẩm Yên vẽ đặc biệt tinh xảo, bất luận chiều dài đầu cuối hay kích thước cửa sổ, hoàn toàn vẽ theo tỷ lệ, không sai một ly. Nét bút của cả bức tranh cũng sinh động, mỗi vật mỗi cảnh đều có khí khái linh động, không hề cứng nhắc như tác phẩm của họa sư cung đình."

Triệu Ngai hiểu ra: "Đại ca rất thưởng thức tài hoa của cô ấy, nhưng để tâm chuyện cô ấy là cháu gái Lệ Quý phi, cho nên mãi đến trước khi gặp ở vườn Tập Phương đều chưa từng liên lạc với cô ấy."

"Đúng vậy," Triệu Tích thẳn thắn thừa nhận, "Quan hệ giữa nàng ấy và Lệ Quý phi khiến ta chùn bước. Nhưng trong nửa năm đó, hầu như mỗi lần đi qua hành lang Cẩm Yên, ta đều không tự chủ được mà nhớ tới nàng ấy, đôi mắt sáng ngời của nàng ấy, cái nhíu mày nụ cười của nàng ấy trong bóng nắng dưới hành lang... Sau này, lại tình cờ gặp nàng ấy ở vườn Tập Phương, ta phải dùng ý chí rất lớn, mới giữ được vẻ mặt bình thản dưới con mắt của bao người, không để lộ vẻ vui mừng ra mặt, mà sự vui sướng khó kìm nén ấy cũng khiến ta hiểu rõ tâm ý của mình. Cuối cùng, lúc chia tay hôm đó, ta đưa ra yêu cầu gặp lại, và nàng ấy, cũng vui vẻ nhận lời."

Triệu Ngai hỏi dồn: "Đại ca đã vượt qua được khúc mắc trong lòng để hẹn gặp cô ấy, tức là chuẩn bị chấp nhận cô ấy rồi, thế chẳng phải rất tốt sao, tại sao về sau lại..."

Triệu Tích nhắm mắt lại, đè nén muôn vàn cảm xúc đang cuộn trào như dòng nước ngầm trong lòng, chậm rãi nói tiếp: "Lần gặp cuối cùng, ta đã hôn nàng ấy, đồng thời cũng quyết định, sẽ cùng nàng ấy đi hết phần đời còn lại... Nhưng khi ta trở về Đông cung, đem chuyện này nói với Vương Mộ Trạch, bảo lão giúp ta nghĩ cách bẩm báo với phụ hoàng, thì lão lại đột nhiên quỳ sụp xuống trước mặt ta, dùng giọng điệu kiên định dị thường, không cho phép nghi ngờ mà nói: 'Điện hạ, chuyện này vạn lần không được!'"

Triệu Ngai khó hiểu nói: "Vẫn là vì Lệ Quý phi?"

Triệu Tích buồn bã cụp mắt, nhìn chằm chằm mũi giày, hồi lâu mới nói: "Vừa rồi đệ nhắc tới, Lệ Quý phi từng sinh một đứa con, vừa lọt lòng đã tắt thở... Vậy đệ có biết sinh nhật của đứa bé ấy không?"

Triệu Ngai lắc đầu: "Lệ Quý phi chưa bao giờ nói với đệ về đứa bé này, người trong các của bà ấy chắc sợ bà đau lòng, bình thường cũng chẳng nhắc đến."

Bàn tay Triệu Tích đặt trên án dần nắm chặt lại, đốt ngón tay nhô lên trắng bệch, giọng nói cũng run rẩy: "Sinh nhật của đứa bé này, trùng với ngày sinh của Phùng Tịnh."