🪷 Chương 30: Vĩnh biệt
🪷 Editor: Thảo Anh
Tô Ngọc Dung xách hộp thức ăn, một lần nữa vẫy tay với Lận Chiêm, ôn tồn bảo: “Về đi thôi, đừng để lỡ việc học hành. Trời lạnh rồi nhớ mặc thêm áo, ta về đây.”
Lận Chiêm không giữ nàng lại. Tẩu tẩu tới đây một chuyến chẳng dễ dàng gì, nếu không đi ngay thì trước khi trời tối sẽ không kịp vào thành, như thế rất nguy hiểm.
Hắn đứng trước cổng, miệng thì hứa với nàng sẽ vào nhà, nhưng thực chất vẫn đứng chôn chân tại chỗ, dõi mắt nhìn theo bóng dáng mảnh mai, có phần chậm chạp của nàng xách hộp đồ ăn khuất dần xa mãi.
Bên vệ đường, chiếc xe bò lúc đến vẫn đang chờ sẵn. Lão nông đã nhận gấp đôi tiền của Tô Ngọc Dung nên hứa sẽ đưa nàng về tận thành.
Tô Ngọc Dung ngồi lên xe, dăm ba câu chuyện phiếm với lão nông. Chiếc xe lững thững đi mất một canh giờ, cuối cùng cũng tới cổng thành.
“A Công.” Tô Ngọc Dung nói với lão, “Có phải ông thường xuyên đánh xe quanh khu này không ạ?”
“Phải rồi cô nương.”
Tô Ngọc Dung cười bảo: “Vậy lần sau cháu lại đi xe của ông nhé.”
Lão nông gật đầu: “Được thôi.”
Nàng quay người vào thành, đi ngang qua bến tàu lại mua thêm ít cam ngọt mang về nhà nhâm nhi.
Khi Lận Đàn vắng nhà, Tô Ngọc Dung cũng chẳng để mình rảnh rỗi. Mỗi ngày nàng đều luyện chữ, đọc sách, nấu nướng, ngày tháng trôi qua bình lặng mà sung túc.
Thỉnh thoảng đồng liêu của Lận Đàn có ghé thăm, Tô Ngọc Dung thấy cảm kích vô cùng, lại làm bao nhiêu món ngon gửi tặng họ.
Thầy của Lận Đàn tuổi tác đã cao, đã cáo lão từ quan hai năm trước, hiện đang dưỡng già ở ngoại thành. Nhưng nhận lời ủy thác của Lận Đàn, cứ cách vài ngày ông lại sai tiểu sai trong nhà sang thăm nom Tô Ngọc Dung. Nàng nghĩ người ta tuổi cao sức yếu còn phải nhọc lòng trông chừng mình nên thấy không đành lòng. Nàng bèn hỏi thăm tiểu sai, ghi nhớ thói quen ăn uống của vị lão Hàn lâm ấy, thi thoảng lại hầm canh mang tới phủ.
Vị lão tiên sinh ấy ở trong kinh đức cao vọng trọng, làm việc gì cũng chỉn chu phép tắc. Tô Ngọc Dung sợ người ta chê mình là hạng thô kệch, ít chữ nghĩa nên mỗi lần đến cửa đều không dám nán lại lâu, đưa đồ xong, thỉnh an một tiếng là đi ngay.
Chớm thu, tiết trời chuyển lạnh, Tô Ngọc Dung hầm một liễn canh chim cút nấu hoài sơn, phục linh.
Nàng nhớ tiểu sai phủ Lão Hàn lâm từng nói, cứ đến độ xuân thu là lão tiên sinh hay bị ho, tì vị lại yếu, tối kị đại bổ.
Mẹ của Tô Ngọc Dung sức khỏe cũng không tốt, năm nào vào hai mùa này, cha nàng cũng ra trấn tìm nhà nuôi gia cầm mua mấy con chim cút về hầm canh cho vợ. Khi ấy, Tô Ngọc Dung thường ngồi bên cạnh, gọt vỏ hoài sơn rồi đưa cho cha.
Chim cút sau khi chần sơ thì cho vào hũ gốm cùng với hoài sơn, phục linh, thêm hai quả táo mật, rót đầy nước suối rồi dùng giấy tang niêm phong miệng hũ, đặt lên bếp lớn chưng cách thủy suốt hai canh giờ.
Khi mở hũ, nước canh trong vắt như gương, chỉ lốm đốm vài vệt mỡ vàng óng, nhưng hương thơm lại thuần hậu, ấm áp, không chút ngấy mỡ, có tác dụng bình bổ nhuận táo rất tốt.
Nàng vẫn như mọi khi xách giỏ tới Lữ phủ: “Phiền đại huynh chuyển lời hỏi thăm sức khỏe của tiên sinh và phu nhân giúp tôi.”
Sau khi Tô Ngọc Dung đi, quản gia quay vào thư phòng nội viện bẩm báo.
Lữ Hàn lâm tóc râu trắng xóa đang đứng bên cửa sổ viết chữ, nghe vậy liền ngẩng đầu, thản nhiên hỏi: “Người đi rồi sao?”
“Dạ, Tô nương tử có vẻ rất e dè, lần nào đưa đồ xong cũng đi ngay ạ.”
Lão tiên sinh bật cười bất lực: “Cái đứa nhỏ này, lần nào cũng chẳng chịu ngồi lại chơi một lát, sao mà nhát thế không biết.”
“Tính nương tử ấy là vậy mà, ông cứ gọi vào ngồi rồi nói chuyện thì cô ấy lại càng sợ, càng không tự nhiên.”
Lão phu nhân ngồi bên cạnh che miệng cười, bà vẫn còn nhớ lần đầu Lận Đàn đưa người vợ mới cưới tới bái phỏng, cô nương ấy cứ khép nép cúi đầu, chẳng dám ngước mắt nhìn quanh, giọng nói thì lí nhí. Lận Đàn phải xin hai người lượng thứ, nói vợ mình tính tình mềm mỏng, chỉ là nhát gan chứ không phải vô lễ.
Dẫu sao học trò của Lữ Hàn lâm cũng trải khắp thiên hạ, ông lại có vẻ uy nghiêm, chỉ cần ngồi im không nói thôi cũng đủ làm người ta khiếp vía. Ngay cả Lận Đàn hồi nhỏ ở bên cạnh ông cũng từng bị phạt, lòng bàn tay bị thước kẻ đánh đỏ lựng. Hồi ở Nhạn Bắc, Lận Đàn từng kể chuyện này cho nàng nghe, lúc đó Tô Ngọc Dung nghe mà sợ muốn chết, nên lúc nào cũng nơm nớp kính sợ vị lão tiên sinh trong truyền thuyết này.
“Ừm.” Lữ Hàn lâm đặt bút xuống, nhìn nét chữ mình vừa viết, hiếm khi mỉm cười: “Hi Yến đi xa, một mình con bé ở nhà không oán không hờn, ngược lại còn thu vén cuộc sống thong dong thế này, lại còn biết nhớ đến bậc tôn trưởng, thật là hiếm có.”
Nói xong, Lữ Hàn lâm mở nắp hũ gốm, mùi hương thanh khiết lan tỏa, nước canh trong vắt như suối đầu xuân, thịt chim cút mềm nhừ mà không nát, đúng là hỏa hầu mà ông ưng ý nhất. Xem ra khi chưng nấu, cô nương kia đã túc trực bên cạnh không rời mắt nửa giây.
Nhấp nửa chén canh, Lữ Hàn lâm chợt dặn dò con dâu đang đứng hầu bên cạnh: “Lấy bộ ‘Ẩm Thiện Chính Yếu’ ra đây… ừm, lấy thêm cuốn ‘Thiên Tự Văn’ có tranh minh họa nữa.”
Con dâu là Lý thị mỉm cười: “Cha định dạy tiểu nương tử nhận mặt chữ ạ?”
“Con bé đã thích nghiên cứu mấy thứ này thì biết thêm con chữ cũng tốt. Người ta đọc sách biết chữ không cầu công danh hiển hách, nhưng để minh trí, phân định phải trái đúng sai thì cũng coi như không uổng công.” Lữ Hàn lâm nói: “Hi Yến trước khi đi trăm bề lo lắng, giờ xem ra vợ nó là hạng ngoài mềm trong cứng, chẳng cần ai phải bận tâm, hèn chi nó lại yêu chiều đến thế. Lần tới con bé ấy có sang thì hỏi xem có muốn ở lại không, cứ cách ba ngày lại tới đây một chuyến, ta sẽ dạy con bé nhận mặt chữ, đọc ít sách vở.”
“Dạ.”
Lý thị theo lời dặn, lấy hai cuốn sách trên kệ xuống gói ghém lại, sai tiểu sai mang sang.
Tô Ngọc Dung đang học bật bông cùng với người hầu. Vào thu trời lạnh nhanh lắm, chớp mắt là sang đông, nàng muốn làm một chiếc chăn bông mới. Ngoài việc học lễ nghi thì chậm chạp ra, còn lại nàng học gì cũng nhanh, chỉ nhìn vài lần là làm được ngay.
“Tô nương tử, Tô nương tử.”
Ngoài cửa có một tiểu sai mặt mũi quen thuộc ló đầu vào, Tô Ngọc Dung nhận ra đó là người của Lữ phủ.
“A Lý, sao em lại tới đây?” Nàng đặt đồ trên tay xuống, vội bước tới lo lắng hỏi: “Có phải canh hôm nay đưa sang không hợp khẩu vị, Lữ công không thích sao?”
“Không phải, không phải đâu ạ.” A Lý cười hì hì, đưa ra một cái bọc: “Lão gia nếm thử rồi nói rất thích, bảo tiểu nhân mang hai cuốn sách này sang cho Tô nương tử đọc.”
Tô Ngọc Dung ngẩn ngơ, lau sạch tay rồi mới nhận lấy. Một cuốn “Ẩm Thiện Chính Yếu”, một cuốn “Thiên Tự Văn” có tranh màu. Lận Đàn từng nói với nàng rằng sách có tranh vẽ đều rất quý giá, công đoạn chế tác phức tạp, thường chỉ nhà quyền quý mới sưu tầm.
Tô Ngọc Dung nhất thời thấy mình được ưu ái mà lo sợ, vẻ mặt hốt hoảng: “Cái này… là cho ta đọc sao?”
A Lý gật đầu: “Vâng ạ, nương tử mau nhận lấy đi.”
Nàng không dám nhận, nàng sao có thể nhận thứ quý giá thế này, ngộ nhỡ làm hỏng thì biết tính sao.
A Lý nhìn ra vẻ đắn đo trong lòng nàng, bèn nói: “Đây là lão gia dặn tặng nương tử, nương tử không nhận thì tiểu nhân về không biết ăn nói thế nào đâu ạ.”
Lúc này Tô Ngọc Dung mới đáp: “Vậy… vậy ta xin nhận. Làm phiền em chạy một chuyến, cho ta gửi lời cảm ơn tiên sinh và phu nhân.”
A Lý hành lễ với nàng rồi chạy biến ra khỏi ngõ.
Những ngày sau đó, Tô Ngọc Dung lại có thêm một việc để làm. Nàng phải học thuộc lòng, luyện chữ, cứ cách vài ngày lại sang Lữ phủ một chuyến. Lữ Hàn lâm dạy nàng đọc sách nhận mặt chữ. Ông đã là lão nhân ngoài thất thập, khí chất uy nghiêm, mỗi lần Tô Ngọc Dung tới Lữ phủ đều nơm nớp lo sợ, học hành chẳng dám lơ là chút nào, lúc ra về thường thì lưng áo đã đẫm mồ hôi.
Thỉnh thoảng Lữ Hàn lâm vắng nhà, người tiếp nàng là con dâu của ông. Lý thị vốn xuất thân từ danh gia vọng tộc, tính tình ôn nhu hiền thục, là tài nữ có tiếng trong kinh thành. Nhưng khi đối mặt với một Tô Ngọc Dung chẳng có học thức, kiến thức nông cạn, nàng ấy cũng chưa bao giờ lộ vẻ thiếu kiên nhẫn. Qua Tết Trung thu, Tô Ngọc Dung tặng Lý thị một chiếc túi thơm ngải cứu tự tay khâu, Lý thị tặng lại nàng một chiếc quạt lụa.
Khi Lận Đàn rời kinh được gần một tháng, Tô Ngọc Dung nhận được thư của chàng.
Chàng đã tới Lật Thành, thiên tai ở đó khá nghiêm trọng. Mỗi ngày chàng đều bận rộn cùng đồng liêu ổn định đời sống cho dân chúng lầm than, cùng đôn đốc xây đắp đê điều. Chàng có chút mệt nhưng mọi việc đều thuận lợi, mong nàng đừng quá lo lắng.
Nhìn thấy nét chữ của chàng, Tô Ngọc Dung ngồi bên cửa sổ khóc rất nhiều. Biết chàng bình an là nàng yên tâm rồi.
Nàng xếp lá thư lại, đặt dưới gối.
Sáng sớm hôm sau, Tô Ngọc Dung lại tới thư viện Bạch Lộc, vẫn là đi nhờ xe bò của lão nông lần trước.
“Cô nương, lại đi đưa đồ ăn cho tiểu thúc đấy à?”
Tô Ngọc Dung gật đầu.
“Nhà mình vẫn chưa về sao?”
“Dạ chưa.” Tô Ngọc Dung leo lên xe bò, ngồi vững chãi: “Chàng bận lắm, đang đi trị thủy ạ.”
Lão nông kinh ngạc: “Trị thủy? Thế thì đúng là vị quan phụ mẫu phúc tinh của dân chúng rồi.”
Tô Ngọc Dung thẹn thùng cười: “Cháu cũng thấy phu quân cháu giỏi lắm ạ.”
Kỳ thi thu năm nay vì mưa lớn kéo dài nên bị lùi lại vài ngày.
Tô Ngọc Dung nghe nói học tử sau khi vào Cống viện thì không được ra ngoài, phải tự chuẩn bị đồ ăn, nên nàng đã làm ít bánh nướng và điểm tâm gói ghém mang cho Lận Chiêm.
Những thứ này, Lận gia chẳng ai nghĩ tới mà lo liệu cho hắn. Họ căn bản chẳng hy vọng gì vào vị Thất công tử vốn không được cha thương mẹ yêu, lại còn mang danh “thiên sát cô tinh” này có thể thi cử đỗ đạt gì, nên cũng chẳng chuẩn bị đồ đạc gì cho hắn cả.
Quyền huynh thế phụ, dù Tô Ngọc Dung chẳng lớn hơn Lận Chiêm bao nhiêu, nhưng nàng cảm thấy mình nên làm tròn trách nhiệm này.
Đến thư viện Bạch Lộc, nàng vẫn làm như lần trước, túm lấy một học sinh đi ngang qua hỏi xem có thể gọi Lận Chiêm ra giúp mình không. Sợ người ta không chịu, nàng còn đặc biệt chuẩn bị thêm đồ ăn: “Làm phiền huynh gọi đệ ấy giúp tôi với, nếu không tiện cũng không sao đâu, tôi sẽ hỏi người khác. Cái này mời huynh ăn ạ.”
Người kia vốn dĩ định từ chối vì ngại phiền phức, nhưng ngay khi một chiếc bánh nướng vàng ruộm, rắc đầy vừng, thơm nức mũi được đưa đến tận mặt, hắn ta lập tức sáng mắt lên, vui vẻ nhận lấy: “Được được, tôi đi ngay đây.”
Ở trong thư viện ăn rau dưa mãi phát ngán, cái bánh thơm lừng thế này thì dù có bỏ độc hắn ta cũng cam lòng ăn.
Tô Ngọc Dung sợ chắn đường người khác nên đứng nép vào góc. Đợi một lát, Lận Chiêm đã xuất hiện trước cổng. Hình như hắn vừa chạy tới nên cổ áo hơi xộc xệch, nhìn thấy nàng liền đi thẳng tới.
“Tẩu tẩu.” Giọng Lận Chiêm thanh thoát, hắn dừng bước trước mặt nàng.
Tô Ngọc Dung ngước đầu, khẽ mỉm cười: “Vài ngày nữa là đệ vào kỳ thi rồi phải không?”
“Vâng, ngày kia sẽ vào Cống viện.”
“Ta có chuẩn bị ít lương khô cho đệ mang vào ăn, toàn đồ để được lâu cả đấy.”
Tô Ngọc Dung đưa cái bọc mang theo suốt dọc đường cho hắn, cảm giác nặng trịch. Lận Chiêm nhận lấy mà có chút ngạc nhiên: “Sao mà nặng thế này?”
“Ta lỡ tay làm hơi nhiều, ừm…” Nàng mím môi, dường như đang cân nhắc lời nói sao cho không quá đột ngột: “Tiểu thúc, nếu đệ ăn không hết thì có thể chia cho bạn học cùng ăn, cũng là cách để kết giao thêm bạn bè mà.”
Nàng đã suy nghĩ hồi lâu, thấy cậu em chồng này cứ lầm lì mãi không ổn, mười mấy tuổi đầu rõ ràng là lúc nên kết bạn giao du.
Hồi nhỏ, vì bị cha mẹ ruột bỏ rơi lại bị đánh đập nhiều nên tính cách Tô Ngọc Dung rất nhút nhát, lúc nào cũng trốn sau cánh cửa, chẳng dám ra ngoài.
Cha mẹ nuôi tuy không nói gì nhưng trong lòng rất lo. Thật ra Tô Ngọc Dung cũng rất ngưỡng mộ đám trẻ con hay tụ tập chơi đùa ở đầu làng, chúng cùng nhau bắt cào cào, chọi dế, hay bưng bát chạy ra sân đập lúa để nhặt những hạt thóc rơi vãi.
Tô Ngọc Dung muốn tham gia cùng chúng nhưng nàng sợ, nhát gan chẳng dám mở lời.
Mẹ nàng bèn nghĩ ra một cách, đưa nàng đi hái lá cây du. Lá du đầu xuân xanh mướt, mẹ hái về rửa sạch thái nhỏ, trộn với thịt băm cha đã chuẩn bị sẵn rồi rán thành bánh. Mẹ bảo Tô Ngọc Dung vừa ăn vừa đi ngang qua trước mặt đám trẻ đó.
Nàng thẹn thùng không dám chủ động bắt chuyện, nhưng đám trẻ kia thì không nhát như nàng. Chúng chạy tới vây quanh nàng hỏi nàng đang ăn gì thế, thế là Tô Ngọc Dung nhỏ giọng bảo: “Là bánh mẹ ta rán đấy, mọi người có muốn ăn không?”
“Có!”
Thế là nàng đã có bạn. Đồ ăn ngon chính là cây cầu tốt nhất để bắt đầu một tình bạn.
Lận Chiêm nắm chặt bọc đồ nặng trịch, cảm nhận được hơi ấm của thức ăn truyền qua lớp vải thô.
Hắn chợt mỉm cười, cảm thấy cái cớ này của nàng thật là sơ hở đầy mình.
Cái gì mà lỡ tay làm nhiều? Một người chỉ có một cái miệng, nàng vác cái bọc to tướng thế này, đồ ăn bên trong dù Lận Chiêm có ăn từ sáng đến tối không ngừng nghỉ cũng chẳng hết được, làm sao mà lỡ tay cho nổi. Dù có làm dư thật thì cũng có thể chia cho hàng xóm, hà tất phải tốn công vận chuyển từ nhà đến thư viện thế này.
Chỉ có thể là cố ý làm nhiều để hắn chia cho bạn học, mong hắn có thể tạo mối quan hệ tốt với mọi người để sau này giúp đỡ lẫn nhau.
Hắn cúi nhìn tẩu tẩu đang ngước mặt nhìn mình với ánh mắt trong veo đầy ý cười. Một lọn tóc mai của nàng bị gió thu thổi rối, càng tôn lên vẻ dịu dàng mềm mỏng của nàng.
Người ngoài đều nói nàng thô kệch, không khéo léo đảm đang như những phu nhân tiểu thư khác, nhưng thực tế, tâm tư Tô Ngọc Dung lại tinh tế hơn bất cứ ai. Nàng luôn nghĩ cho người khác, lo lắng quá nhiều và làm cũng quá nhiều.
“Đệ biết rồi.” Lận Chiêm khẽ đáp: “Đệ sẽ chia cho mọi người cùng ăn.”
Tô Ngọc Dung không kìm được mà nở nụ cười, chợt nhận thấy mình lộ vẻ đắc ý rõ quá, sợ tiểu thúc nhận ra mình cố ý nên vội vàng thu lại vẻ mặt.
“Huynh trưởng vẫn chưa về sao?” Lận Chiêm đột ngột hỏi. Cách đây không lâu, hắn có nghe nói chuyện Lận Đàn phụng chỉ Nam hạ trị thủy.
“Chưa.” Tô Ngọc Dung vì lời của hắn mà dâng lên nỗi nhớ nhung, lẩm bẩm: “Chàng có viết thư cho ta, nói còn phải bận rộn lâu lắm. Ta sợ chàng ở đó ăn không no mặc không ấm, không biết có được nghỉ ngơi tử tế không nữa.”
Nói đoạn, gương mặt nàng lộ vẻ u sầu. Lận Chiêm vô cảm nghĩ thầm: Đúng là người đi rồi mà vẫn chẳng để ai yên.
“Tẩu tẩu.” Lận Chiêm ngắt lời nàng: “Trên tóc tẩu có sâu.”
“Á?” Mặt Tô Ngọc Dung lập tức tái mét, tay vội vàng sờ lên tóc mai: “Ở đâu? Ở đâu cơ?”
Nàng muốn sờ nhưng lại không dám, cả người đờ ra như khúc gỗ.
Lận Chiêm ôn tồn hỏi: “Đệ giúp tẩu lấy ra nhé?”
Tô Ngọc Dung chẳng dám nhúc nhích, lắp bắp: “Đệ giúp… giúp ta vứt nó đi.”
Được nàng đồng ý, Lận Chiêm tiến lên một bước, đứng sát bên nàng. Mùi hương thanh khiết của thiếu niên phả vào mặt, Lận Chiêm giơ tay, tay áo rộng của hắn lướt qua gò má nàng, Tô Ngọc Dung nín thở chờ đợi.
Lận Chiêm gỡ một chiếc lá rụng trên tóc nàng xuống, lùi lại một bước, trầm giọng bảo: “À… xin lỗi tẩu, ta nhìn nhầm, là cái lá khô thôi.”
Thấy không phải sâu, Tô Ngọc Dung mới thở phào một cái. Suýt nữa nàng đã nhảy dựng lên tại chỗ để hất con sâu đi rồi, nhưng trước mặt tiểu thúc thì làm vậy không tiện chút nào.
Lận Chiêm vê chiếc lá trong tay, tay kia xách bọc đồ nặng. Nói chuyện bấy lâu, cũng đến lúc phải đi rồi.
Tô Ngọc Dung vén lọn tóc bên má ra sau tai, bảo: “Ta về đây, đệ vào học đi. Lúc thi đừng có căng thẳng nhé, dù thi không tốt thì cũng chẳng có gì to tát đâu… phui phui phui, ta không có ý nói đệ thi không tốt đâu, ta chỉ nói ví dụ thế thôi, cũng không phải… không có ví dụ gì cả, ta…”
Tô Ngọc Dung bực mình quá, chỉ muốn giậm chân, thấy mình nói năng chẳng đâu vào đâu. Nàng càng nói càng rối, cuống đến mức vành tai đỏ ửng, cuối cùng đành buông xuôi cúi đầu, buồn bã nói: “…Tóm lại là đệ cứ thi cho tốt là được.”
Lận Chiêm không nhịn được mà bật cười. Thiếu niên môi hồng răng trắng, mắt sáng như sao, khi khóe miệng khẽ nhếch lên một độ cong nhàn nhạt ấy, trông như băng tuyết mùa xuân tan chảy, xua tan đi phần nào vẻ u ám thường trực giữa đôi mày.
“Được.” Hắn đáp, giọng điệu dịu dàng hiếm thấy: “Ta nhớ rồi, tẩu tẩu yên tâm.”
“Ừm.” Tô Ngọc Dung lại mỉm cười với hắn: “Vậy ta đi đây, bác đánh xe bò vẫn đang đợi ta đằng kia.”
Nàng chỉ tay về phía bóng cây đằng xa, nơi một lão nông đang ở trần ngồi đó, buồn chán quất quất ngọn roi.
“Vâng.”
Lận Chiêm nhìn nàng quay người bước lên xe bò đi xa. Hắn cẩn thận vê chiếc lá trong tay, đeo bọc đồ, tâm trạng rất tốt, bước chân trở về cũng trở nên nhẹ nhàng hơn.
Mấy người bạn học đang ngồi trong phòng thảo luận kinh nghĩa, Lận Chiêm đẩy cửa bước vào rồi đi thẳng tới. Thấy hắn, ai nấy đều ngạc nhiên.
Vẻ mặt Lận Chiêm vẫn thản nhiên, hắn đặt bọc đồ lên bàn đá, cởi dây buộc, để lộ ra những chiếc bánh nướng vàng ruộm hấp dẫn xếp ngay ngắn cùng đủ loại điểm tâm lương khô.
Trong lòng hắn thật chẳng muốn chia sẻ đồ ăn với những người này chút nào. Dù có để trong phòng hắn đến mức mốc meo, hôi thối hay mọc sâu bọ thì đó cũng là đồ của hắn, chỉ có thể thuộc về hắn. Thế nhưng nếu làm vậy thì thật phụ tấm lòng của tẩu tẩu.
“Người nhà có làm ít đồ ăn.” Hắn mở lời, giọng nói bình thản, “Số lượng hơi nhiều, nếu không chê, mời mọi người cùng dùng.”
Mấy người kia lúc đầu ngẩn ra. Họ đều biết tính tình Lận Chiêm cô độc lạnh lùng, gia cảnh lại phức tạp, ngày thường ai nấy đều tránh mặt hắn. Ở thư viện, mọi người ngầm hiểu là giữ khoảng cách với hắn, mà bản thân hắn cũng luôn đi về một mình, chẳng giao tiếp với ai.
Trong thoáng chốc, cả sân viện im phăng phắc, chẳng ai nói câu nào. Tuy nhiên, mùi thơm từ đống đồ ăn trong bọc cứ như có chân, tự chui vào mũi họ. Bánh nướng vàng óng giòn rụm thơm mùi mỡ, kẹo vừng ngọt lịm vừa miệng, thịt bò khô đỏ bóng mà không xác…
Người bạn học vừa rồi được ăn bánh ngoài cổng là người đầu tiên lên tiếng: “Tôi ăn, tôi ăn!”
Người khác không biết chứ hắn ta biết rõ, tay nghề của tiểu nương tử kia cực tốt, bánh nướng nhân thịt nhiều lớp giòn tan, cắn một miếng là vụn bánh rơi rào rào!
Hắn ta cười hì hì tiến lên, lấy một miếng thịt khô và một chiếc bánh nướng, cắn một miếng rồi sáng mắt lên: “Chà! Ngon quá!”
Có người mở đầu, những người khác cũng rục rịch tiến tới, không khí lập tức trở nên sôi nổi. Họ vừa thưởng thức vừa tấm tắc khen ngợi, ánh mắt nhìn Lận Chiêm bớt đi vài phần xa cách thường ngày. Suy cho cùng, “ăn của người thì miệng mềm”, không thể vừa ăn đồ người nhà hắn gửi tới mà lại vừa cô lập hắn được.
Lận Chiêm rủ mắt, che giấu những cảm xúc đang cuộn trào, chiếc lá hắn vê trong đầu ngón tay dường như đang tỏa nhiệt, nối liền với trái tim hắn, nóng đến mức muốn bốc cháy.
–
Lận Đàn đã rời kinh được một tháng. Trong thời gian này, Lận phủ không có ai qua đây quấy rầy, Tô Ngọc Dung cũng thấy tự tại. Nếu Lận tam gia sang tìm chuyện thì phu quân không có nhà, nàng thật sự chẳng biết đối phó ra sao.
Thực tế, Lận tam gia không phải chưa từng nảy ra ý định nhân lúc cháu trai vắng nhà sẽ triệt hạ hoàn toàn Tô Ngọc Dung. Người chết rồi là xong hết, chẳng lẽ Lận Đàn có thể vì một người chết mà đối đầu với gia đình cả đời hay sao?
Thế nhưng, Lận Đàn rõ ràng trước khi đi đã có phòng bị. Chàng không chỉ nhờ cậy đồng liêu trong kinh mà còn nhờ vị thầy đức cao vọng trọng của mình trông nom giúp. Tô Ngọc Dung thường xuyên ra vào Lữ phủ, vị Lữ tiên sinh kia không biết bị bùa mê thuốc lú gì mà những lúc rảnh rỗi lại dạy cái người phụ nữ thô kệch nhà họ Tô kia học chữ.
Những người ở lại trong sân cũng toàn hạng đáng tin cậy. Nếu Tô Ngọc Dung đột ngột tử vong hay mất tích vào lúc này, dấu vết sẽ quá lộ liễu, khó tránh khỏi bị nghi ngờ.
Lận tam gia nhẫn nhịn nhiều ngày, ông ta thực sự không thể chấp nhận một người như Tô Ngọc Dung gả vào Lận gia. Suy cho cùng, ông ta không thể chịu đựng được việc cháu trai lại dám cãi lời mình, nên nhất định phải cho nó một bài học nhớ đời, bắt nó phải cúi đầu phục tùng mới thôi.
“Cơ hội tốt thế này không thể bỏ lỡ.” Lận tam gia ngồi trong thư phòng, ánh mắt tối sầm, “Nếu Hi Yến xử lý xong việc phương Nam, khi về chắc chắn sẽ thăng quan tiến chức. Còn ả họ Tô kia… thật không xứng làm dâu con nhà danh gia vọng tộc.”
Viên Kỳ rót cho ông ta chén trà: “Vậy lão gia định tính sao? Nếu thật sự giết ả, đợi Nhị lang về biết ăn nói thế nào? Thằng bé có tin là tai nạn không? Sợ rằng làm vậy ngược lại càng khiến nó nổi giận, đinh ninh là do Lận gia ra tay.”
Vừa nhắc đến đứa cháu không nghe lời, Lận tam gia hừ lạnh một tiếng: “Cái thằng nghịch tử đó… nó dám sao!”
Viên Kỳ rủ mắt, ngón tay khẽ động, mài mực. Dù miệng nói cứng nhưng trong lòng Lận tam gia cũng đang cân nhắc, ông ta không dám manh động.
Suy đi tính lại cũng chỉ còn một cách.
Lận tam gia bỗng trầm giọng bảo: “Ả họ Tô kia ở một mình bên ngoài, không chịu nổi cô đơn cũng là chuyện thường tình.”
Viên Kỳ ngước mắt: “Ý lão gia là… bắt gian?”
“Phải.”
Sau khi suy tính kỹ càng, trong đầu Lận tam gia đã định sẵn một độc kế chắc chắn hơn. Chỉ cần gán cho Tô Ngọc Dung tội danh bất trinh là có thể danh chính ngôn thuận đuổi nàng đi. Đến lúc đó dù Lận Đàn có về, bằng chứng thép rành rành, có người đàn ông nào chịu đựng được vợ mình ngoại tình? Dù có si mê đến mấy, nếu biết ả lăng nhăng lúc mình vắng nhà, liệu nó có còn cam tâm tình nguyện lún sâu nữa không?
“Không chỉ bắt gian, mà phải bắt trước mặt bàn dân thiên hạ, để ả thân bại danh liệt, chỉ còn nước cuốn xéo khỏi Lận gia.”
Ánh nến chập chờn nhảy múa trong mắt ông ta như quỷ dữ.
–
Chớp mắt, kỳ thi thu đã qua đi.
Lúc Lận Chiêm thi xong, cả người hắn đã tiều tụy đến mức không còn ra hình người. Không chỉ hắn, ai nấy cũng đều như vậy, dật dờ như bóng ma, chỉ biết dùng ý chí cuối cùng để bước ra khỏi phòng thi. Từ xa, hắn đã thấy tẩu tẩu đang chờ trong đám đông.
Bên cạnh Tô Ngọc Dung còn có hai người hầu, nàng vội vàng bảo: “Mau, qua đỡ Thất công tử lên xe ngựa.”
Người hầu bước tới xốc nách Lận Chiêm. Trông hắn xác xơ, quầng thâm quanh mắt đen sì, mắt vằn tia máu, cằm cũng lún phún râu.
Lận Chiêm có bao nhiêu lời muốn nói, nhưng vừa lên xe ngựa là hắn ngủ thiếp đi ngay lập tức. Tô Ngọc Dung vén rèm nhìn vào, thấy em chồng cứ thế tựa vào thành xe mà nhắm mắt lịm đi. Hắn trông thật tiều tụy, hai mắt thâm quầng, cằm mọc một lớp râu ria, đầu tựa vào vách xe, đôi tay buông thõng không chút sức lực. Nàng nhìn mà thấy thắt lòng, bèn lấy một chiếc chăn mỏng trong ngăn kéo dưới chỗ ngồi, nhẹ nhàng đắp lên người hắn.
Lận Chiêm trong cơn hôn mê cảm nhận được có người tới gần. Cảnh giác bản năng bao năm qua khiến hắn định mở mắt để xua đuổi kẻ định tiếp cận khi mình đang ngủ, thậm chí là bóp cổ g**t ch*t. Nhưng ngay khi hơi thở của nàng bao bọc lấy hắn, Lận Chiêm vô thức nới lỏng bàn tay đang co lại, sát ý bừng lên trong tích tắc cũng tan biến không còn dấu vết.
Lại là mùi hương ấy, thứ mùi vẫn luôn xuất hiện trong giấc mơ của hắn, mùi bồ kết thoang thoảng hòa lẫn với hương con gái, bao phủ lấy hắn ấm áp vô cùng. Lận Chiêm không kìm lòng được mà chìm đắm, ngỡ rằng lại là một giấc mơ thường nhật nên vô thức đưa tay ra muốn bắt lấy nàng.
Nhưng giây tiếp theo, hơi thở ấy đã rời xa. Lận Chiêm mở mắt ra chỉ kịp thấy một góc vạt áo. Tô Ngọc Dung đắp chăn xong liền lẳng lặng xuống xe ngay, bàn tay hắn đưa ra chỉ lướt qua tà váy nàng trong gang tấc. Trong không gian hẹp, Lận Chiêm nghe thấy nhịp tim mình mỗi lúc một lớn. Hắn nắm chặt chiếc chăn trên người, đưa lên áp sát vào mặt, vùi đầu vào hơi ấm ấy mà hít một hơi thật sâu, nhưng vẫn không bù đắp được cảm giác hụt hẫng sau khi choàng tỉnh.
Hắn càng lúc càng tham lam rồi. Những cái chạm như xuyên qua màn sương ấy chẳng còn làm hắn thỏa mãn được nữa. Hắn khao khát… khao khát được chạm vào khối hương mềm mại ấy thật sự, chứ không phải chỉ trong những giấc mơ ẩm ướt oi bức mới được bố thí một chút dư vị.
Tô Ngọc Dung bảo người đưa em chồng về nhà. Hiện tại trong nhà có mấy người hầu, trước khi đi Lận Đàn đã mua lại cả sân bên cạnh và thông hai nhà làm một, nên tiểu viện giờ đã rộng rãi hơn nhiều, dư ra mấy gian phòng nhỏ, vừa hay để em chồng đang kiệt sức ở tạm, cũng không sợ bị người ta đàm tiếu.
Lận Chiêm về phòng là ngủ luôn. Tô Ngọc Dung sợ hết hồn, tưởng hắn chết rồi, đi thi mệt đến thế sao? Lúc Lận Chiêm ngủ say, nàng thậm chí còn sai người vào xem mấy lần, kiểm tra hơi thở, thấy hắn còn sống mới thở phào một cái. May quá, chưa chết, chỉ là quá mệt nên ngủ sâu thôi.
Giấc ngủ này kéo dài rất lâu, ngủ quên trời quên đất, chẳng phân biệt nổi là lúc nào. Khi Lận Chiêm tỉnh dậy đã là trưa ngày hôm sau. Một tiểu sai bưng chậu đồng tiến vào: “Thất công tử mau rửa mặt đi ạ, bên ngoài đã chuẩn bị đồ ăn rồi.”
Chẳng đợi người hầu nói, Lận Chiêm đã ngửi thấy mùi thơm, đó là mùi vị đặc trưng từ tay nghề của tẩu tẩu.
“Tẩu tẩu đâu?”
Người hầu đáp: “Phu nhân đi Lữ phủ rồi ạ.”
Tô Ngọc Dung là người rất thật thà và thận trọng. Hễ có tiểu thúc ở nhà là nàng đi vắng, tuyệt đối không để bất kỳ cái cớ nào cho người ta đàm tiếu.
Lận Chiêm im lặng đứng dậy. Hắn tắm rửa sạch sẽ rồi đẩy cửa bước ra. Trên bàn bày cháo gà xé, bánh đường, rau chiên… Tất cả đều còn nóng hổi. Người hầu bảo, phu nhân dặn bếp luôn giữ nóng đồ ăn để Thất công tử tỉnh dậy là có đồ nóng ăn ngay.
Lận Chiêm ngồi xuống bàn, cầm đũa bắt đầu ăn như hổ đói. Nghỉ ngơi được mấy ngày, hắn lại quay về thư viện, sắp tới còn có những kỳ thi khác, không thể lơ là một ngày nào.
–
Năm nay các nơi đều mưa nhiều, Lật Thành là nơi nghiêm trọng nhất. Lận Đàn đã đến đây hơn một tháng. Chàng cúi xuống xắn cao ống quần, vạt áo bào cũng giắt vào thắt lưng. Bầu trời như bị phủ một tấm lưới, mây đen sà xuống thấp. Cơn mưa ở Lật Thành từ ngày chàng tới đã rơi ròng rã nửa tháng trời, nước ngập hoa màu, nhấn chìm nhà cửa, dân chúng lầm than, quan phủ bó tay chịu trói.
Lận Đàn đứng trên đài vọng gác tạm bợ, màn mưa dày đặc chảy dọc theo vành nón thành một bức rèm nước không dứt. Gấu áo quan bào dính đầy bùn đất, khuôn mặt chàng gầy sọp đi, bên tóc mai thậm chí đã lốm đốm vài sợi bạc, chỉ có đôi mắt là vì ngày đêm lo âu mà càng thêm sắc sảo, tinh anh.
Người phía sau lo lắng nói: “Đại nhân, nếu đào kênh dẫn nước ở đây, vạn nhất không khống chế được, ba làng hạ lưu e là sẽ gặp họa diệt vong!” Một vị quan địa phương lên tiếng can ngăn.
Lận Đàn quay lại nhìn ông ta, giọng nói trầm ổn mà kiên định, ngữ khí không cho phép cãi lại: “Thân đê phía trước đã chịu áp lực tới hạn, nếu không phân dòng, một khi vỡ đê thì đâu chỉ có ba làng gặp nạn? Lúc đó cả Lật Thành lẫn các phủ huyện hạ lưu đều khó bảo toàn. Truyền lệnh của ta lập tức thi hành, mọi hậu quả một mình bản quan gánh chịu, dù có bị thiên đao vạn quả cũng tuyệt không liên lụy đến các vị.”
Vị quan nọ còn do dự nhưng không nghĩ ra cách nào tốt hơn, đành xuống dưới làm theo.
Lận Đàn chỉ huy phu phen khẩn cấp đào kênh dẫn nước. Chàng túc trực bên bờ sông, ăn ngủ cùng đám cấp dưới. Ngay cả giữa đêm khuya khi mọi người đã nghỉ ngơi, chàng vẫn đi dọc bờ kênh khảo sát kỹ lưỡng. Sự thật chứng minh quyết định của chàng là đúng đắn, một phần đỉnh lũ được san sẻ, giữ vững được thân đê chính đang lung lay sắp đổ. Nước lớn không còn tràn xuống cuồn cuộn, dân cư ở ba ngôi làng kia cũng đã sớm được Lận Đàn sơ tán, dù đê có vỡ thì thương vong cũng được khống chế ở mức thấp nhất.
Mưa lúc tạnh lúc rơi, mọi người cuối cùng cũng có được chút thời gian nghỉ ngơi. Lận Đàn đã ba ngày ba đêm không chợp mắt, bị cấp dưới cưỡng ép đưa về nơi ở. Nói là nơi ở, thực ra chỉ là một cái lán dựng tạm ngay gần đó để tiện quan sát tình hình đê điều. Trong lán bày biện đơn sơ, trên bàn phủ đầy bản đồ thủy lợi và công văn khẩn cấp về tình hình lũ lụt.
Lận Đàn bước vào lán, chỉ kịp thay đôi giày tất ướt sũng, ngay cả quần áo cũng chẳng buồn cởi, nằm vật xuống chiếc chõng tre tạm bợ mà ngủ thiếp đi. Vừa chạm gối là đã chẳng còn biết gì nữa. Chiếc gối ấy là do Tô Ngọc Dung làm, bên trong nhồi đầy thảo quyết minh có tác dụng thanh can minh mục. Tô Ngọc Dung bảo chàng bôn ba bên ngoài, chiếc gối này sẽ giúp chàng ngủ ngon hơn.
Gối đầu lên chiếc gối mềm, Lận Đàn cảm giác như ngửi thấy mùi hương trên người vợ. Hai tháng sau khi thành thân ở Nhạn Bắc là quãng thời gian hạnh phúc nhất đời chàng. Khi ấy chàng chỉ là một huyện lệnh nhỏ, bổng lộc không cao, việc cũng chẳng nhiều. Những vụ án ở huyện nha toàn chuyện vặt vãnh như bò nhà ai dẫm nát ruộng nhà kia, trẻ con nhà ai hái trộm dưa… nhưng với bách tính đó là chuyện lớn, chàng đều phải xử lý công tâm.
Những lúc mệt mỏi trở về nhà, Tô Ngọc Dung ngồi trên giường vẫy tay gọi chàng, chàng sẽ tới ôm lấy nàng, gối đầu lên đôi chân mềm mại của vợ mà chìm vào giấc ngủ. Chàng nhớ nàng quá. Nhớ đến quay quắt.
Trong mơ, Lận Đàn chỉ thấy toàn hình bóng Tô Ngọc Dung. Không biết hơn một tháng qua nàng sống thế nào, có bị ai bắt nạt không, không có chàng ở bên nàng có thấy buồn chán không. Liệu nàng có giống chàng, luôn nhớ nhung và mong ngóng từng ngày không.
Nỗi lo âu kéo dài khiến Lận Đàn dù trong giấc ngủ cũng không dám buông lỏng. Không biết đã qua bao lâu, có lẽ chàng mới chợp mắt được một canh giờ, một sự cảnh giác không tên xuất phát từ bản năng đột ngột kéo chàng khỏi cơn mê.
Bên ngoài lán, tiếng mưa dường như đã nhỏ đi, nhưng không khí lại tràn ngập một sự ngột ngạt đến nghẹt thở. Quá yên tĩnh, tĩnh lặng một cách bất thường, ngay cả tiếng ếch nhái hay côn trùng kêu ran thường ngày cũng biến mất.
Lận Đàn bật dậy, xỏ giày tất, lao nhanh ra khỏi lán. Nhìn dòng sông đen kịt như vực thẳm, chàng nín thở lắng nghe. Ngoài tiếng mưa rơi lách tách, từ phía lòng sông xa xa dường như vọng lại những tiếng ầm ì trầm đục không dứt.
“Hỏng rồi!” Sắc mặt chàng biến đổi. Âm thanh này là dấu hiệu thân đê bị rò rỉ, thậm chí là hiện tượng sủi đất báo hiệu vỡ đê. Lận Đàn lập tức chộp lấy nón lá áo tơi treo trên giá, khoác vội lên người rồi lao ra ngoài.
“Đại nhân, vạn lần không được!” Lão bộc canh chừng ở gian ngoài nghe thấy tiếng động, vội lao tới ngăn cản: “Bên ngoài trời tối đen như hũ nút, đường trơn khó đi! Dù có chuyện gì khẩn cấp cũng phải đợi trời sáng đã chứ, cứ thế này mà đi thì nguy hiểm lắm!”
Bước chân Lận Đàn không dừng lại, chàng đội nón lao ra màn mưa: “Hiểm nguy không chờ người, nếu vì một phút do dự mà để xảy ra đại họa vỡ đê, ta dù chết muôn lần cũng không rửa hết tội.” Chàng cầm đèn lồng, quay đầu đâm sầm vào bóng đêm mịt mù.
Tình hình trên mặt đê còn tồi tệ hơn tưởng tượng. Mưa bão nhiều ngày khiến đất đá xốp nát, bùn lầy lội, Lận Đàn khó khăn tiến bước, dò dẫm theo ánh đèn yếu ớt. Chàng đã thuộc lòng bản đồ địa hình, nương theo dòng chảy nhanh chóng phán đoán ra nơi dễ xảy ra sự cố nhất. Mấy tên hộ vệ thân tín theo sát phía sau, vẻ mặt căng thẳng.
“Là ở đây.” Lận Đàn chỉ về phía trước, “Mau, bịt lỗ hổng lại trước!”
“Hi Yến…” Tống chủ sự bên Bộ Công bước tới, “Tình hình thế nào rồi?”
Tống chủ sự đã ngoài ngũ tuần, vì lo lắng tình hình đê điều nên cũng dẫn người đi tuần tra từ hướng khác tới đây. Lận Đàn bảo: “Đã tìm thấy vị trí rồi. Lão nhân gia sao lại tới đây, trời tối mưa to thế này.”
“Ta không yên tâm…” Mưa bắt đầu nặng hạt, giọng Tống chủ sự nhỏ dần, ông cố gắng mở mắt: “Hi Yến, con đã ba ngày ba đêm không ngủ rồi, ở đây cứ giao cho ta, con về nghỉ đi.”
“Không cần!” Lận Đàn hét lớn, “Con còn trẻ, sức khỏe tốt, chưa chết được đâu! Lão nhân gia mau về đi!”
Tống chủ sự vẫn còn do dự, nhưng Lận Đàn đã quay người chỉ huy binh lính. Thấy vậy, Tống chủ sự đành quay bước ra về. Ngặt nỗi trời mưa đường trơn, đèn lồng trong tay bị gió mưa dập tắt, trước mắt bỗng chốc tối sầm.
Lận Đàn đang tiến về phía trước, đột nhiên phía sau có tiếng kinh hô. Chàng ngoảnh lại, đúng lúc thấy Tống chủ sự trượt chân do mưa lớn, ngã xuống dòng nước xoáy bên rìa đê. Lận Đàn lập tức lội nước tới, tóm chặt lấy tay ông.
Binh lính trên bờ cuống cuồng định kéo cả hai lên. Ngay lúc đó, mặt đất dưới chân Lận Đàn phát ra những tiếng răng rắc rợn người, chàng tái mặt, nhận ra đây là dấu hiệu sạt lở nền đê, liền định rút lui.
“Đại nhân cẩn thận!” Tiếng binh lính hét lên thất thanh.
Trong tích tắc, cả một mảng đê lớn nơi chàng đứng không còn trụ vững nữa, đất đá sụp đổ, sóng dữ cuộn trào. Lận Đàn dùng hết sức đẩy Tống chủ sự ra ngoài, binh lính trên bờ nhanh tay lẹ mắt kéo được ông lên, rồi quăng dây thừng xuống: “Đại nhân, mau nắm lấy!”
Thân hình Lận Đàn không kiểm soát được mà rơi xuống, chàng cố gắng vươn tay chộp lấy sợi dây, nhưng bùn đất sụt lở và dòng nước lũ cuồn cuộn đã lập tức nhấn chìm chàng. Chiếc đèn lồng lung lay trên tay chàng vẽ một đường vòng cung ngắn ngủi trong đêm tối, rồi vụt tắt, rơi tõm vào cõi hư vô.
“Lận đại nhân!”
Nước sông cuồn cuộn cuốn trôi tất cả. Đám quan lại cấp dưới chạy dọc bờ sông gào khóc gọi tên, nhưng tuyệt nhiên không có lời hồi đáp. Trong đêm mưa gió mịt mù thế này, dòng sông đầy đá ngầm và xoáy nước, rơi xuống đó coi như chẳng còn hy vọng sống sót. Tống chủ sự nôn ra một búng nước bẩn, nhận thức được chuyện gì vừa xảy ra, ông quỳ sụp bên bờ sông, nước mắt giàn giụa: “Hi Yến ơi…”
–
Trong kinh thành, mưa cũng không ngừng rơi, gõ lộp bộp vào cửa sổ. Tô Ngọc Dung nằm mãi mà không sao ngủ được. Hôm nay lòng nàng cứ bồn chồn lo lắng không rõ nguyên do, cứ chợp mắt được một lát là lại giật mình tỉnh giấc.
Trong phòng oi bức ẩm thấp, nàng đành dậy đốt một nén hương đàn để xua đi mùi khó chịu. Có lẽ vì trời mưa ẩm, hương bị ẩm nên đốt mãi không cháy. Tô Ngọc Dung thở dài, đặt đồ xuống. Không ngủ được thì thôi vậy.
Nàng thắp đèn dầu, lấy một chiếc áo cũ của phu quân trong tủ ra khoác lên người, rồi lấy hai tờ mẫu chữ, ngồi bên giường cúi đầu nắn nót đồ theo. Trên áo chàng vẫn còn vương mùi hương đàn thanh nhẹ, quẩn quanh nơi đầu mũi, tựa như chàng đang ôm lấy nàng vậy.
Tô Ngọc Dung hít hà mùi hương ấy, hạ bút trên giấy, trái tim đang thấp thỏm không yên cũng dần dần bình lặng trở lại.