Chương 5 - Chiêu Hề Cựu Thảo - Thư Hải Thương Sinh

Chiêu Hề Cựu Thảo - Thư Hải Thương Sinh

Có họ Hữu Tô, hồ ly Linh Bảo. Ngụ nơi hẻo lánh, đã được nhiều đời, thích sự thịnh vượng, cứ hay giỡn đùa, tính tình dâm loạn, thành hôn với người.

–[ Nhã phẩm ] Chi quyển nhất ngũ – Vạn yêu cách.

Phù Tô nằm mộng. Cha chàng đang ở Hoằng Định điện mở tiệc đãi quần thần, A Kiến, tam đệ mang các tiểu huynh đệ ra ngoài đốt pháo, để lại một mình chàng trong điện, đối mặt với đám người cả già lẫn trẻ, không ai không nhìn chàng với khuôn mặt đầy thâm ý.

Chàng cảm thấy trong điện rất nóng, nhưng vẫn ngồi thẳng hơn cả ban nãy, mặt không đổi ăn đồ bên cạnh. Nhìn xung quanh, chỉ thấy có Trịnh quý phi. Trịnh quý phi cùng tuổi với mẫu thân, thế nhưng xinh đẹp trẻ trung hơn mẫu thân rất nhiều. Không biết vì sao mà Bệ hạ cao cao tại thượng lại yêu thương Trịnh quý phi như vậy. Chàng đọc ghi chép về những thiếu nữ mà bệ hạ triệu hạnh qua các thời kì, trong đó sủng ái một phụ nữ trong cung ba ngày một tháng đã được gọi là quá sủng, trên tám ngày gọi là chuyên sủng vậy so sánh với Bệ hạ của chàng, một tháng hai mươi ngày đã ở trong cung Quý phi thì gọi là gì?

Nguyên lão tam triều Trần Tể Phụ trước khi tuổi già về hưu từng hỏi bệ hạ: “Trong cung làm gì không phải, để Bệ hạ làm chuyện bất công như vậy?” Phụ thân chàng trả lời, đến nay chàng vẫn không hiểu được. Bệ hạ đáp: “Với các ngươi Quý phi là hồng nhan họa thủy, với ta thì không. Với các ngươi Hoàng hậu là hiền đức đáng tin, ta chẳng nghĩ là thế.”

Phù Tô ngồi trước mặt quần thần, xuyên qua chuỗi hạt trên mão, nhìn khuôn mặt không chút hảo ý nơi xa xôi, thế nhưng cũng bình tĩnh hơn. Con người vốn là vậy, chẳng phải sao? Những thứ chán ghét lúc nào cũng nhiều hơn thứ có thể giành được. Mẫu thân chàng, chẳng qua chỉ là một trong những thứ mà Bệ hạ chán ghét. Còn chàng, cũng sắp biến thành một dạng khác.

Chàng uống sữa trắng trên bàn, đột nhiên cả người lúc lạnh lúc nóng không kiềm được. Chàng ngồi cứng ngắc, quyền thế, d*c v*ng của mọi người đều chất chồng trong đại diện lấp lánh ánh vàng, chúng vừa đè lên chàng, vừa biến thành từng khuôn mặt dữ tợn.

Bỗng Bệ hạ quay qua chàng, lạnh lùng hỏi: “Thái tử, thần là gì?” (* thần – 臣 trong quân thần)

Chàng như ngồi trong bồn băng, người bị đổ dầu sôi, lúc lạnh lúc nóng, đau đớn khó chịu. Thần là gì? Lại nhìn xuống dưới, bọn chúng như đã biến thành lũ súc sinh đói khát. Chàng chỉ vào chúng, nói với phụ thân: “Bệ hạ, sài lang hổ báo, đều là thần của ngài.”

“Còn ngươi?” Phụ thân chàng bước từ vương vị xuống, đến bên cạnh, sau đó cúi người hỏi chàng.

Phù Tô cảm thấy nhiệt độc trên đã được rút đi một tầng, chàng cố gắng gượng, không nói một lời.

Chàng không phải, không phải thần tử của Bệ hạ. Cho dù tất cả người trên trần gian đều cúi đầu xưng thần với ngài, chàng cũng không làm thế.

Phụ thân chàng mặc chiếc áo bào đen thêu rồng, lạnh lùng nhấc chàng ra khỏi chỗ ngồi, tát một cái.

Trong giấc mộng đó, hình như chàng còn nhỏ, chỉ tầm sáu bảy tuổi. Thậm chí chàng đã không nhớ rõ từ lâu, không biết chuyện này có tồn tại thật hay không.

“Không phải, con không phải thần tử của bệ hạ, sài lang hổ báo kia cũng không phải thần tử của ta.” Chàng bị bệ hạ nhấc lên cao, người nhỏ gầy chân không thể chạm đất, bình tĩnh cúi trán trả lời.

Bệ hạ nhìn chàng, ánh mắt chán ghét như nhìn kẻ thù tột đỉnh. Chàng hiểu, ngày chàng bị coi là con mèo con chó bị vứt bỏ sẽ không còn xa.

Khi đó, là lần cuối cùng, chàng để Bệ hạ và những kẻ khác nhìn thấy rõ những thứ trong mắt mình.

Chàng và phụ thân, mắt đối mắt.

Phụ thân.

Sau này, sẽ không gặp nữa, cho dù đau đớn thế nào, cũng không bao giờ gặp nữa.

Lúc Phù Tô tỉnh lại, đang vùi mặt vào trong tấm lông chồn mềm mại ấm áp, cả người vẫn lúc lạnh lúc nóng. Có một khuôn mặt xấu xí tái nhợt khác, đang dán lên mặt chàng.

“Hề Sơn.” Chàng gọi tên nàng, vì đang bệnh nên giọng nói mà khàn khàn trầm thấp.

Hình như có tà khí nhập vào cơ thể Phù Tô, phát sốt. Đã hai ngày rồi.

Mãi lúc sau nàng mới tỉnh lại, dụi mắt hỏi chàng: “Sao thế?”

“Đói bụng.” Phù Tô cảm thấy đói khát đến không thể chịu được. Chàng không thể nói ra cảm nhận đau đớn của mình, mọi nỗi đau đều biến thành đói khát.

Hề Sơn quân đưa tay phải đang nắm lại lên, lúc mở ra thì xuất hiện một ngọn lửa rực rỡ. Trong đốm lửa, khuôn mặt nàng vẫn u ám, thế nhưng cũng trở nên nhu hòa một cách lạ kì, “Dậy thôi, ăn cơm tối nào.”

Phù Tô gật gật đầu, đợi ngọn lửa kia từ từ an tĩnh lại, nhìn ánh mắt của nàng, trừ chút lệ quang băng lãnh, vẫn mang vẻ phức tạp không thể tả thành lời. Chàng theo nàng tới phòng ăn. Thúy Nguyên vẫn không ở đây, đang đến chỗ Niên Thủy quân chơi. Nay đã sắp tới tết, công vụ Niên Thủy quân bừa bộn, không thể quan tâm hắn, thế nhưng Thúy Nguyên là một yêu quái đã kết bạn rồi sẽ không câu nệ, không vì vậy mà bớt nhiệt tình.

Phù Tô cúi đầu ăn cơm, thi thoảng gắp miếng dưa muối. Chàng cứ mãi yên tĩnh không gây sự chú ý, thế nhưng hôm nay ăn mà thấy rất mệt, khi mọi người để ý thì chàng đã ập mặt vào cái chén đất xù xì, đũa trúc rơi xuống bùn nghe thật chói tai.

Bốn Ba tới cạnh Phù Tô, quơ tay trước mặt chàng, thế nhưng đứa bé này lại lập tức ngã xuống đất. Hề Sơn quân đang ngồi ghế mà đứng phắt dậy. Lúc Hai Nhăm đi tới, không cẩn thận đụng chân vào ống tay áo Phù Tô. Làn da dưới tay áo lộ ra, sưng phồng khiến người ta phát sợ.

“Tránh ra.” Hề Sơn quân lập tức cầm cổ tay Phù Tô lên. Nàng xem mạch, lúc trầm lúc chậm, khó bắt được mạch. Nàng chuyển cho chàng một ít yêu lực. Phù Tô vẫn hoàn toàn không có động tĩnh.

“Chàng ta bị sao vậy?” Tam nương hoảng loạn bước ra từ trong đám khỉ, đỡ Phù Tô.

Trán Hề Sơn rịn mồ hôi, lại bắt mạch, thế nhưng vẫn không biết là gì như cũ. Tam nương sờ trán chàng, vẫn nóng hổi, giận dữ nói với Hề Sơn: “Chàng vẫn chưa giảm sốt!”

Hề Sơn quân cởi giày chàng, chân cũng sưng vù không còn hình dạng cũ. Tam nương vô lực ngồi trên đất, bắt đầu đánh vào Hề Sơn, “Cái người vô liêm sỉ này, ta không nên giao chàng cho người! Chàng là một tiểu hoàng tử, không phải yêu quái sơn tặc như người. Vậy mà người để cho chàng ăn những thứ này hằng ngày, ngủ trong phòng đá lạnh như băng!”

Hề Sơn quân không kiên nhẫn hất tay Tam nương, “Chờ chàng chết rồi chị hẵng khóc thì chẳng phải tiện hơn à?”

Nói xong thì cõng Phù Tô, đưa ra ngoài phòng ăn. Hề Sơn quân như vừa nhận ra gì, rốt cuộc hiểu tại sao giấc mộng ban nãy ảnh hưởng tới Phù Tô, có lẽ lúc Phù Tô cõng nàng, vô tình nhiễm ôn dịch mà không biết. Chẳng qua chàng trẻ tuổi, đến giờ mới phát tác.

“Quân phụ, người muốn đưa công tử đi đâu?” Ba Sáu mới từ nhà bếp đi ra, lấy vải bố xoa tay, bắt đầu đuổi theo chàng.

“Chớ lo, Linh Bảo quân sẽ có biện pháp.” Hề Sơn quân trả lời Ba Sáu, cõng Phù Tô đi xuống núi.

***

Linh Bảo quân ở Linh Bảo sơn. Nếu bảo Hề Sơn nghèo tới nỗi chỉ có một cái quần mặc cả đời thì Linh Bảo sơn là nhà địa chủ, giàu tới mức thấy mấy đứa nhỏ Hề Sơn ăn bánh bao thô thì hâm mộ, mang cái bánh bao trắng thơm của mình đi đổi.

Linh Bảo quân là một bà già vừa có tiền vừa rộng rãi, nguyên thân là một con hồ ly. Linh Bảo sơn nuôi gì cũng dễ sống, không như Hề Sơn, là một vùng đất phúc. Ban đầu, hơn một ngàn năm trước, Linh Bảo quân là một con hồ ly quả phụ một mình mang tám đứa hồ ly con tới Linh Bảo sơn sống khổ cực qua ngày, không có yêu nào hay biết, bà hình như là một con hồ ly rất phong lưu, vì cha của tám con cáo con đều không phải cùng một con hồ ly đực. Có một ngày,  một cái bình trắng miệng nhỏ bằng ngọc trắng rất đẹp từ trên trời rơi xuống Linh Bảo sơn. Linh Bảo quân thích trang điểm, cả ngày đội cái bình đi khắp núi. Chẳng biết vì sao có một quãng thời gian bỗng xuất hiện rất yêu quái kì quái muốn bắt bà làm thịt. Linh Bảo quân bị dồn vào đường cùng, che chở tám đứa con, ngồi dưới vách núi rơi nước mắt.

Thế nhưng ông trời cũng không thấy bọn họ thảm thương mà tỏ ra lo lắng. Đột nhiên Linh Bảo quân bỗng ngộ ra, có lẽ điều này có liên quan đến cái bình nhỏ bà đang đội. Bà tức giận đập bể cái bình, đột nhiên trong bình bốc khói xanh dày dặc. Làn khói xanh nháy mắt biến thành lão già râu tóc bạc phơ. Lão hồ ly và tiểu hồ ly đều nhìn đến ngẩn người.

Lão nói lão là thần tiên trên trời, luyện đan đến mức nhớ lộn ngày, mở lò trước thời hạn, yêu quái bên trong trở nên nóng nảy và có uy lực mạnh gấp trăm lần. Chúng đuổi lão đánh, muốn cùng đồng quy vu tận. Lão thần tiên hết cách, nghĩ ra cách núp vào cái bình trong phòng. Ai dè có đồ nhi không cẩn thận, tưởng cái bình vô dụng, tùy tiện vứt xuống trần, lúc này bị Linh Bảo quân nhặt được. Đám yêu quái nghe thấy tiếng mà tới, dồn chín mạng một nhà vào đường cùng. Lão thần tiên trong bình cảm thấy mình quá đáng, do dự không biết nên ra ngoài hay không. Đúng lúc này, Linh Bảo quân đập vỡ cái bình.

Từ đó về sau, Hồ quả phụ được đổi vận. Chẳng hay lão thần tiên không biết tên kia có phải vì áy náy hay không, cho Linh Bảo quân mấy viên thuốc, nhận lão hồ ly này làm một đồ nhi hữu danh vô thực ở trần gian. Linh Bảo sơn muốn ăn uống gì cũng có, được chín con hồ ly hiếu kính, lão thần tiên rất hài lòng. Đến khi pháp thuật của Linh Bảo quân đến lúc tinh tiến, trên trời ban chỉ ý và thiên binh xuống, tiêu diệt lũ yêu quái thác loạn, đưa lão thần tiên về. Lại mấy ngày sau Linh Bảo quân biến thành người, ăn đan dược, yêu lực càng tăng. Gần trăm năm trước, trong đám Sơn quân, bà là Sơn quân đầu tiên phi thăng thành tiên, chính thức tiếp quản Linh Bảo sơn.

Linh Bảo quân nhớ kĩ ân đức sư phụ, thế nên luôn hào phóng với mọi người. Nghe bảo sư phụ họ Lý, trên trời có tên là Luyện Đan tiên, truyền thụ cho bà không ít cách luyện đan tuyệt diệu, vì thế hễ lũ yêu tiên ốm đau cũng đều thích tìm bà chữa trị. Chỗ nào của bà cũng tốt, chỉ có một điều không tốt. Hễ thấy yêu quái đực nào có vẻ ngoài đoan chính tìm tới chữa bệnh lạ, lúc nào Linh Bảo quân cũng bắt lấy con cái nhà mình làm điều kiện trao đổi, không sẽ không chữa.

Mỗi lần như vậy, dù bệnh đến mức nào, các yêu quái đực đều lập tức sinh khí dồi dào, tinh thần tỉnh táo, bỏ trốn mất dạng.

Nhắc tới Linh Bảo quân thì không thể không đề cập một cô hồ ly nhà bà. Linh Bảo Quân sinh ba trai năm gái. Vì bà vốn phong lưu nên tụi nhỏ cũng được di truyền ít nhiều, tâm địa tập trung chuyện nam nữ nhiều hơn những yêu quái khác. Ba đứa con trai vừa hóa thành người thì đã mê nữ tử dưới chân núi, khóc lóc đòi xuống nhân gian tìm hạnh phúc. Được hai năm, đứa lớn nhất bị nhà vợ mời đạo sĩ đánh què một chân, chân sau nhảy lò cò về núi; qua hai năm sau, con thứ hai bị mù một mắt quay về; đứa thứ ba kéo dài thời gian hơn một chút, nghe đầu nó mê hoặc huyện chủ nhân gian, thế nhưng chưa được mấy năm thì huyện chủ đó lại si mê một mỹ thiếu niên khác, thầm lên kế hoạch giết chồng, hồ ly Tam thiếu chán nản, nhân màn đêm chạy về Linh Bảo sơn. Từ đó về sau, ba con hồ ly đực mỗi đêm đều ngắm trăng mà thương xuân sầu thu, nhìn Đạm hải trước núi thở ngắn than dài. Bốn tiểu muội hồ ly sắp trưởng thành nhận được giáo huấn, không xuống nhân gian tìm người bầu bạn mà gả cho một tên yêu quái dung mạo tuấn tú nào đó. Nhưng mọi người cũng biết đó, đã là yêu quái, đa số đều không phải dòng tộc trời sinh mỹ mạo, bình thường có thể xinh đẹp được bao nhiêu? Các chị em hồ ly xinh đẹp, ai cũng thấy ủy khuất, cuối cùng đi xuống trần gian nuôi vài tình nhân xinh trai để an ủi nỗi cô đơn. Các ông chồng yêu quái nghe kể, xuống trần gian bắt lũ tình nhân ăn sống. Các chị em hồ ly càng trở nên phóng túng hơn, nghe thế liền nuốt luôn các ông chồng, quay về Linh Bảo sơn, cùng mẹ làm quả phụ. Từ đó về sau, dù con gái út của lão yêu hồ ly đã lớn, nhưng cũng không có yêu quái đực nào hỏi han tới.

Hễ nghĩ tới chuyện này thì Linh Bảo quân ràn rụa nước mắt, ký vào đầu các cô con gái: “Ta không nhớ là mình đã nuôi một đàn quả phụ đen thế này, sao có thể mất não rồi ăn trượng phu như vậy?”

Cũng vì chuyện này mà ngày nào Linh Bảo quân cũng mang con gái út theo bên người, hết lòng dạy dỗ, không để con bé chơi với các chị, sợ đứa con gái cuối cùng cũng học theo thói hư tật xấu. Cô bé hồ ly tên là Thu Lê, trông cũng giống trái lê mùa thu lắm, người béo phệ, mặt lấm tấm. Nhưng tính tình thì lại rất tốt, không hung hãn như mấy bà chị, nhưng vì chưa gặp người lạ bao giờ nên rất hay xấu hổ.

Lúc Hề Sơn quân cõng Phù Tô tới, Thu Lê hoảng sợ trốn sau mẹ già, nhìn Hề Sơn quân quen thuộc nay cõng một quái nhân cả người sưng phù.

“Hề Sơn quân tới đây, khách quý khách quý.” Linh Bảo quân cười, cầm quải trượng đầu rồng chỉ vào Phù Tô đang sưng phù, “Chàng là ai, bị làm sao?”

Hề Sơn quân cười nói: “Tiên nhân cứ xem thử chút đi, hình như sắp tiêu rồi, ta không tra ra bệnh chứng, chỉ biết xin tiên nhân giúp đỡ.”

Trong mắt Linh Bảo quân đầy ý cười, nhìn Hề Sơn quân, như có ý đồ, nói, “Ngươi có chắc là biết quy củ chỗ ta không?”

Thu Lê đỏ mặt, cúi đầu, không dám nhìn Hề Sơn quân.

Hề Sơn quân lại cười nói: “Biết chứ, ta cam đoan Thu Lê cô nương sẽ được gả cho người trong sạch.”

Linh Bảo quân căng thẳng, hù dọa nàng: “Nhưng không cho ngươi mang lũ khỉ kia để làm qua loa. Tụi nó nghèo lắm, một ngày Thu Lê ăn tám bát cơm, nhà các ngươi không nuôi nổi đâu.”

Thu Lê xấu hổ đến tai đỏ ửng, oán trách nhìn mẫu thân.

Hề Sơn quân chắp tay vâng dạ, “Nhà chúng ta nghèo vậy, sao xứng với cô nương? Ta nói người trong sạch, là chỉ nam nhi tốt trong nhân gian.”

Mặt Thu Lê biến trắng, mấy vết lấm tấm càng hiện rõ. Linh Bảo quân nhíu mày, “Nhân gian càng không được. Đàn ông nhân gian đều xốc nổi hư vinh, không ra thể thống gì. Tuy bảo nhà ta có chút quan hệ thông gia với loài người, nhưng mấy năm nay, ta dâng pháp chỉ, xuống trần gian tuần tra đêm, thấy nóc nhà dày đặc khói đen là biết ngay, nay lòng người gian trá, không còn được giáo hóa như thời trước nữa.”

Hề Sơn quân cười nói: “Nhìn nhà có khói xanh bốc lên là biết ngay ư? Luôn có người tốt để lựa, Tiên quân cứ yên tâm, hãy giao hết cho ta.”

Linh Bảo quân do dự, nhìn dung mạo con gái, cuối cùng vẫn gật đầu. Bà chống quải trượng khám cho Phù Tô, lấy quải trượng kỳ quái gõ lên người chàng, sau đó giật mình lấy tay áo dài che mặt: “Đứa nhỏ này bị nhiễm sốt rét. Mau đưa đi đưa đi, không chữa được, không chữa được!” Nói xong liền muốn đóng cửa tiễn khách.

Hề Sơn quân cũng kinh hãi, quỷ dị nhìn qua Phù Tô, hỏi: “Thật sự không thể chữa được ư?”

Linh Bảo quân kéo con gái tránh thật xa, cả giận nói: “Ta lừa ngươi làm gì! Cũng khuyên ngươi mau thiêu nó đi, đừng có mang họa cho nhất mạch nhà ta!”

Hề Sơn quân nhíu mày rất lâu mới đá Phù Tô đang cuộn mình một cái, nở nụ cười lạnh như băng, có phần thở phào nhẹ nhõm, “Vậy cũng hết cách rồi. Thời vận chàng không đủ, đừng có lại trách ta.”

***

Gần đây, Thất thương ở thủ đô Trịnh quốc có một đại hộ mới chuyển vào, không biết thế hệ mấy đời, nhưng phô trương lãng phí, của cải nhiều vô kể. Hộ này mới tới Thất thương thì đã đưa giá cao mua hơn mười mấy tiệm rượu, quán trà, phường vải, phường dệt nhuộm, cửa hàng châu báo, sở hồng quán, chọc một đám đại thương đỏ mắt bàn luận. Nghe bảo chủ nhà là một ông lão, họ Hữu Tô. Họ này thật kì quái, ngược lại nghe như một thị tộc thượng cổ, chỉ sinh được mấy vị cô nương. Đại cô nương nhà họ quản lý tiệm châu báu, nghe đâu mang mũ mạng ra cửa hàng, bỗng có một cơn gió độc thổi tới bay mất cái mũ mới lộ ra là một mỹ nhân quốc sắc thiên hương. Toàn bộ nam tử Thất thương đều sôi máu, số người chen chúc tới Hữu Tô gia cầu thân đứng đầy con đường trước nhà người ta.

Ai ngờ lão bất tử nhà Hữu Tô lại vác cái bụng béo phệ, vân vê hàm râu bạc nói, bốn cô nương đầu của nhà họ đều là quả phụ, muốn kết hôn thì không cho đồ cưới đâu. Còn đồ cưới cô nương nhỏ nhất thì sẽ tặng toàn bộ gia tài, nhưng phải tài như trạng nguyên, dũng cỡ tướng soái thì mới chịu.

Ngũ cô nương sợ hãi trốn trong cửa, gió độc không nổi nhưng mọi người ai cũng phồng mang trợn má muốn tự thổi bay cái mũ mạng kia. Cô nương xấu hổ ôm mũ, co chân múp míp chạy vào trong nhà, trong khoảnh khắc đó, dáng người nàng đã làm kinh động tất cả đám đàn ông.

Công tử phú thương thế gia giàu đó đều bỏ đi phân nửa, đám nhà nghèo vẫn trơ mặt ở lại, mắt nhìn lão già, miệng gọi nhạc phụ, Hữu Tô lão gia ngồi gác chân trên ghế hoàng kim sửa móng tay, vuốt vuốt cặp mày rộng hình chữ bát (八), nhìn đám trai nghèo mắng: “Tụi bây mà cũng xứng à!”

Ngã tư đường ban nãy vẫn còn đông đúc náo nhiệt là thế mà bây giờ không còn bóng người, ngoại trừ có một tên ăn mày không rõ mặt vẫn đang ngủ say chưa tỉnh trước phía méo méo cửa phủ nhà Hữu Tô.

Hữu Tô lão gia âm trầm nhìn tên ăn mày một cái, không đếm xỉa: “Đuổi nó đi cho ta.”

***

Lúc Phù Tô tỉnh dậy thì đã giữa đêm. Xung quanh không một tiếng gà kêu chó sủa, chàng sốt, loạng choạng đứng dậy, phát hiện ở đây không phải Hề Sơn mà là trần gian. Sao đêm nay rất sáng, chàng dựa vào vị trí của các ngôi sao, phát hiện mình đang ở trung nam, đoán chừng là… Trịnh quốc.

Phù Tô chưa bao giờ tới Trịnh quốc, chỉ biết đây là đất phong của Thất hoàng thúc Thành Cư, có thể coi là một quốc gia giàu binh mã của Đại Chiêu, quốc lực cực kì hùng hậu. Trong nước tập trung rất nhiều người Hồ tới buôn bán, lắm người tới kẻ đi, rất khó quản lý. Thế nhưng Thất hoàng thúc Thành Cư có bốn người con ruột, bốn người con nuôi, tám vị công tử đều có hiền danh, mỗi người quản lý một chỗ, Thành Cư công bằng, đối xử tám người con như nhau, cai quản Trịnh quốc rất trật tự.

Lúc Phù Tô chưa bị ném vào Định lăng có nghe kể vì chuyện lập thế tử ở nhà Thất hoàng thúc mà mấy vị trắc phi có con đang tranh cãi ầm ĩ. Tám công tử ai cũng có phe phái riêng, tranh đấu gay gắt không ai nhường ai. Vị trí thế tử vốn để con của chính phi là Hạnh (*nghĩ đen là rau hạnh, một loại cây thủy sinh) tiếp nhận mới đúng lễ nghi, thế nhưng Trịnh vương phi chết sớm, mấy vị trắc phi ai cũng xuất thân từ chi trưởng danh môn thế gia, thân phận cao quý, vì Hạnh không có mẫu thân bảo vệ nên địa vị cũng khá lúng túng. Hạnh có anh nuôi là Bá Thanh quản lý thuế ruộng hỗ trợ, ban đầu vốn cũng yên tâm thế nhưng chớp mắt, tứ huynh quản lý binh mã tổng ty Quý Duệ và lục đệ Giới (*rau kinh giới) gần đây qua lại rất thân thiết, y vô cùng lo lắng, sốt ruột cực kì.

(*) Thất hoàng thúc đặt tên con nuôi thì hay, nhưng tên ruột chỉ có một chữ, tên của các loại rau.

Năm nay Hạnh mười bảy tuổi, đang tuổi cưới vợ. Trước đây vì Thái tử chết bất đắc kì tử, theo quốc lễ phải thủ tang một năm, sang xuân đến tết là sắp tới ngày sinh nhật rồi.

Tin tức thoáng qua trong đầu Phù Tô, thế nhưng chưa từng để trong lòng. Chàng giơ tay lên, thấy xanh xanh tím tím, vẫn sưng phù không giảm, có miệng vết thương nhỏ, chảy ra mủ màu vàng.

Chàng từng đọc một vài sách y, hiểu vài chứng bệnh, nhưng thấy cả người toàn bùn, bị ném trong một cái hẻm đầy dầu mỡ ở nước bạn, thầm hiểu được đôi phần.

Rõ là… không trị được. Chàng bỗng nhớ ngày tỉnh lại khi đang mang bệnh thì nhìn thấy Hề Sơn quân, trong ánh lửa, nhìn xấu xí nhưng cũng có cảm giác thật ấm áp. Chàng biết, yêu quái đó tùy hứng và cổ quái như vậy, nếu có ngày không ăn chàng thì là đã quên lãng chàng rồi. Làm gì có ai nỗ lực đối xử thật lòng thật tâm với ai làm gì, những tình cảm chàng có được trong đời này đều rất hữu hạn, làm sao nói tới thương yêu. Phù Tô sắp xếp những suy nghĩ hỗn loạn trong đầu mình, rõ ràng là trong lúc chàng không có ý thức thì đã bị mang tới giữa những tòa nhà san sát nhau này. Trăng lên cao, soi rõ bốn phía, tường ngói bằng bùn đã xây từ lâu nên vẫn thoang thoảng mùi tanh. Phù Tô cũng ngửi được những mùi khác nhau từ hàng gạo, hàng đậu, quán ăn tiệm rượu, đi ngang từng căn, lòng thầm ghi nhớ. Chàng và người bên cạnh, quan tâm những thứ không giống nhau.

Ra ngoại ô, cuối cùng chàng cũng tìm thấy một cái giếng, uống nước vào thấy cả người càng đau nhức tợn. Chàng múc nước lau mặt và cả người xong, soi xuống giếng mới biết mình đã thay đổi hoàn toàn.

Ô kìa, bệnh tới mức không thấy rõ mặt nữa. Uhm, bánh bao. Phù Tô nghĩ vậy, bỗng nhớ tới đầu bánh bao ngã trái ngã phải của Hề Sơn quân, cơn buồn ngủ và đói bụng kéo tới, chàng dựa vào thành giếng, ngủ một giấc rất sâu.

Không biết vì sao mà lần này chàng lại không có cảm giác rằng mình sắp chết. Chàng nghĩ, khi nào tỉnh lại thì đã đến thời điểm đi tìm con đường sống khác. Trên con đường này không có Hề Sơn quân, cũng không có nhiều yêu quái. Chàng lại nghĩ, nếu đời này còn có thể gặp lại Hề Sơn quân, lúc đó họ sẽ gọi nhau là bạn cũ, chàng sẽ chải tóc cho nàng một lần, chắc không đến mức lúng túng như hiện tại, thấy tóc nàng rối bời thế mà không thể đưa tay vuốt một cái.

Khi Phù Tô tỉnh dậy thì thấy một đám đông đen đang bu lại. Chàng bị những người ở khu vực lân cận bao vây, tay ai nấy đều cầm hòn đá, nhìn chàng vừa hung dữ mà có phần kiêng dè.

“Mày dùng nước giếng hả? Thằng ăn mày?” Một ông già cau mày hỏi Phù Tô.

Phù Tô gật đầu, con ngươi đen nhánh nhìn mọi người, đang không hiểu chuyện gì.

“Đạp chết nó! Nó đã uống nước giếng, đang nhiễm dịch bệnh mà dám dùng nước giếng!” Mọi người gào thét ầm ĩ.

“Từ từ đã.” Hình như ông lão này là trưởng lành ở đây, giơ tay lên, mọi người tạm thời im lặng lại. Ông ta hỏi Phù Tô, “Mày là người Trịnh quốc?”

Phù Tô lắc đầu. Chàng đứng dậy, định rời đi. Những tưởng tới ngoại ô, dân cư thưa thớt thì có thể trốn tạm một chút.

Khuôn mặt lão nháy mắt trở nên thật ác độc, quát lớn: “Không cho nó chạy thoát! Nó không có hộ tịch, không phải người Trịnh quốc! Đánh chết nó, thiêu xác nó!”

Đánh người vây kín Phù Tô hơn, họ cầm đá, mang theo sự hưng phấn và điên cuồng khó tả, hung dữ ném về phía Phù Tô. Những viên đá đó bén ngót, làm rách hai má và quần áo chàng, máu và nước mủ chảy ra, bắn lên đám người đó, họ kinh hãi thét một tiếng, kêu: “Thằng ăn mày này truyền bệnh cho chúng ta, thật kinh tởm!”

“Đừng dùng đá, đốt cháy nó đi! Mau mau, mang đuốc tới đây!” Lão trưởng thôn thở phì, mặt cũng bị dính máu mủ, tức giận nhặt một cây gậy trúc dài hung ác đánh lên đầu Phù Tô.

Cả người Phù Tô đã yếu ớt đến mức chậm chạp, không thể tránh đi, máu me ướt đẫm ngã xuống dưới đất. Hai tay chàng vẫn không thể nắm lại, một tay ngửa ra, một tay úp xuống, duỗi phẳng. Đây là lần thứ hai chàng đối mặt với địch ý lộ liễu thế này,  nhưng không thể làm gì được. Lần đầu tiên là lúc bị nhốt trong quan tài, khoảnh khắc quan tài đóng kín, vì không thể chịu được nỗi đau thấu xương, khi mở mắt ra chỉ biết trơ mắt nhìn quan tài khép lại, mọi ánh sáng đều biến mất. Vào giây phút cuối cùng, trên khuôn mặt được che lụa trắng của kẻ hợp quan cho chàng, khóe miệng không giấu được nụ cười đắc ý. Cười vì cái chết của chàng.

Và nay sự hưng phấn và phẫn nộ của đám người trước mặt cũng vì chàng sắp chết. Chàng giấu cái chết đầu tiên của mình trong tim, trái tim bình ổn lại bị vỡ nát. Vậy mà đến lần chết thứ hai thì mới phát hiện cõi đời này, muốn lặng lẽ sống không dính líu tới ai mà cũng không thể thực hiện được.

Sự hủy diệt đầu tiên khiến chàng đau đớn, còn lần hủy diệt thứ hai là để đổi lại nhận thức ban đầu.

Rốt cuộc, tồn tại mang đến hủy diệt, hay hủy diệt giúp chàng nhận thức sự tồn tại, Phù Tô không còn phân biệt nổi nữa. Thế nhưng vào khoảnh khắc gậy trúc đập vào đầu mình, tất cả đau đớn lại khiến chàng một lần nữa không thể cầm được nước mắt.

Phù Tô nhớ bàn tay do nước suối biến thành, kí ức rối rắm đó đã dừng lại ở bàn tay kia, bàn tay Hề Sơn quân khi đang che mắt chàng.

Chàng đưa tay ra, thế nhưng trong tay đám người kia đều đang cầm những thứ bén ngót để g**t ch*t chàng. Phù Tô không thể chọn được thứ gì, bèn chụp đầu cây gậy trúc lạnh băng. Lão già kia run rẩy, lập tức vứt luôn cây gậy trúc. Phù Tô chống gậy, vất vả đứng lên, vì chàng mang bệnh dịch, đám người kia đều lùi về sau một bước theo bản năng.

Một tên trẻ tuổi lấy mồi lửa ra, hắn vừa cảnh giác nhìn Phù Tô vừa đưa cho trưởng lành. Trưởng làng có phần yên tâm, châm lửa, ngông cuồng giơ đuốc về phía khuôn mặt đã hoàn toàn thay đổi của Phù Tô. Lão trợn con mắt đục ngầu, đọi Phù Tô thối lui hoặc đau đớn hèn mọn cầu xin . Tất cả mọi người lại thả lỏng lần nữa. Tay cầm vũ khí thắng lợi khiến bọn chúng trở nên dũng cảm hơn, nhưng cũng bỉ ổi và hèn mọn hơn.

Thế nhưng khuôn mặt của Phù Tô vẫn không hề thay đổi, đưa bàn tay sưng vù chụp ngọn đuốc, siết thật chặt. Mặc dù cục than đỏ đó đã đốt sạch máu me trên tay chàng, Phù Tô vẫn nắm rất chặt.

Tất cả mọi người đều giơ đuốc, bọn chúng không còn hứng thú vây quanh một con chuột tanh hôi dơ bẩn nữa,  quyết định phải lập tức giải quyết thiếu niên hèn kém này.

Vì thế, tất cả đuốc đều ném vào người Phù Tô.

Nháy mắt, cái áo choàng dính bùn đất đã bốc cháy, Phù Tô nhìn thấy áo quần bị châm đốt, lửa bùng lên đốt cháy lồng ngực và tóc chàng.

Trong ánh lửa sáng rực đó, khuôn mặt điên cuồng càng trở nên âm u. Phù Tô cúi đầu, nếu một giây trước chàng vẫn mang thân phận đứa con thiên hạ (*thiên hạ chi tử) và mang một trái tim bình tĩnh nhìn đám người kia, nhưng giờ khắc này, chàng đã mất tất cả những thứ mọi người đều không thể nhìn thấy, vì ánh lửa mà mắt ướt lệ nhòa, vì dân chúng của cha chàng.

Đám dân này sao đáng thương quá, sự đoàn kết của đời này, là vì muốn cùng giết hại một kẻ khác.

Thái tử các đời được dạy phải yêu vua thương dân, nhưng nhìn đi, chẳng phải có những Thái tử không bị vua giết thì cũng dân diệt. Không thì chẳng may như Phù Tô, vào năm tháng chàng còn sống trên đời, gặp cả hai tình huống.

Tất cả mọi người đều hoang mang, cảm thấy có gì đó không đúng, người trong ngọn lửa đang bước từng bước về phía bọn chúng.

Phù Tô cảm thấy ngọn lửa này đã ép trái tim chàng xông ra, chàng cảm thấy mọi thứ trên đời đều là giả dối, khiến kẻ khác phải cũng chịu đau đớn như mình mới là thật, chỉ khi thấy kẻ khác kêu gào thảm thiết thì mới có thể hiểu được nỗi thống khổ của mình là gì.

Bọn chúng gào thét, tất cả đều chạy trốn, không biết vì sao mọi chuyện lại trở thành thế này. Chẳng phải thằng ăn mày bẩn thỉu đã mắc bệnh dịch phải cam chịu để bọn chúng ức h**p sao? Không phải nên khóc lóc cầu xin sự tha thứ của bọn họ sao? Chẳng phải nên im lặng quỳ mọp dưới chân họ chờ chết sao?

Lửa thiêu hết quần áo Phù Tô, nước mắt chàng như dầu, khiến lửa càng cháy to hơn.

Vương tử mà hèn mọn như thế, sống chịu chua xót, chết trong tàn nhẫn như vậy, rốt cuộc là vì cái gì?

Thế nhưng, vào giây phút tới gần những kẻ đó, chàng dừng lại, nhắm hai mắt, khàn giọng nói: “Các người đi đi.”

Lúc Phù Tô đọc sách, khi thấy những hiệp khách có ơn tất trả, có thù ắt báo hay những gã thích khách kiên định không đổi, sống để giết người, ăn miếng trả miếng thì cảm thấy thú vị lắm, như thể trả thù là biện pháp duy nhất để cứu vớt trái tim mất mát. Nhưng thật ra, chàng chưa từng hiểu tường tận niềm vui sướng khi trả được thù.

Đây vốn không phải là một chuyện vui vẻ gì, thậm chí sẽ biến cái chết không còn vô tận, hơi thở tồn tại cuối cùng cũng vì hận ý tan thành mây khói.

Có vài kẻ không biết trời xanh là thế nào, vì lúc ngươi đau đớn nhất nó sẽ không xuất hiện, nhưng khi ngươi vui thì ắt sẽ khiến tai họa ở đâu đó không xa. Có một đội kỵ binh từ xa tới, kẻ dẫn đầu là một thiếu niên tóc đỏ đội mũ bạc, hắn đưa mắt nhìn ngọn lửa, vung tay lên, một lần nữa quyết định sống chết của Phù Tô.

Rõ ràng chỉ là một mùa đông bình thường, thế nhưng đối với Phù Tô lại là mùa đông khó sống nhất kiếp này của chàng, mãi không kết thúc.

Ngoài Hề Sơn quân thì Phù Tô lại có thêm một ân nhân cứu mạng. Chàng không biết người này tên gì, chỉ nghe tôi tớ tì nữ gọi hắn là ‘Tứ công tử’.

Trừ trước ngực và cánh tay bị lửa đốt thì những bộ phận khác vẫn ổn. Kì lạ là, chàng hết sốt, chứng bệnh khiến cả người sưng phù cũng biến mất. Dường như cây đuốc kia đã ép hết máu mủ ra ngoài, thế nên căn bệnh bất ngờ đã trở nên tốt hơn.

Trên đời này luôn có những chuyện kì quái khiến Phù Tô không thể giải thích, thế nhưng may mắn thay, chuyện kì quái đó đã giúp Phù Tô còn sống.

***

Da của Tứ công tử màu đồng, mắt sáng ngời, mạnh mẽ, tinh lực dồi dào. So với Thành Giác cay nghiệt thì sự thô bạo của thiếu niên này lại có phần trong sáng hơn. Hắn không vui, nện một chùy; vui, lại nện một chùy; đau lòng, cung thị đi theo phải hầu hắn múa hai cây chùy; hưng phấn, dùng kiếm bổ vào cây lung tung.

Nói tóm lại, là một tên điên vì võ. Có điều cái tên võ điên này lại có một sở thích kì lạ, hắn thích nhặt đồ, nhất là thứ nửa chết nửa sống. Hắn tự coi mình là quan thế âm bồ tát, tâm địa hắn thiện lương, thiện lương đến đáng sợ. Ai mà ngờ đường đường là một hảo hán cao bảy thước lại thường ôm con thỏ bị thương, ch** n**c mắt lã chã kêu, ‘ngoan nào, ngoan nào’, ai mà ngờ chó mèo con lại nằm trên đầu người đàn ông đó, hắn ăn một miếng, cho chó mèo một nửa.

Phù Tô sâu sắc hiểu vì sao mình lại được cứu.

Chàng nhìn sự phô trương của Tứ công tử, mơ hồ cảm thấy có lẽ vị Tứ công tử này là một trong rất nhiều anh em chú bác của chàng, hình như chàng đã gặp hắn, nhưng không thể nhớ được tên của người anh em họ này. Đại Chiêu có hơn trăm nước (* bách quốc), Phù Tô có hơn ba trăm anh em, khó thể nhớ được tên mỗi người.

Nếu ở Thất thương thì hẳn Tứ công tử này là con cháu của Thất hoàng thúc.

Hình như Tứ công tử rất thích Phù Tô, sờ vết thương chàng, mắt như lóe sáng hỏi ‘Còn đau không’, cứ như Phù Tô là một con thú nhỏ đáng thương.

Con ngươi Phù Tô đen kịt nhìn hắn, gật đầu. Thật, rất đau, nhất là khi bàn tay như cục sắt của ngươi vỗ lên lên vai trái ta.

Chàng nhìn chằm chằm Tứ công tử một lát, sau đó chỉ vào tóc hắn hỏi: “Vì sao lại đỏ?”

Vẻ mặt của Tứ công tử có phần mất tự nhiên, nói qua quýt, “Ta được phụ vương nhận về nuôi, mẹ ta là người Di (*) từ hải ngoại tới.”

(*) Người Di là cách người Trung Quốc thời xưa gọi các dân tộc ở phía đông.

“Nhìn ngươi không giống người Di.” Phù Tô thản nhiên nói. So với con cháu Thành gia thì khuôn mặt của Tứ công tử thô kệch hơn, nhưng tính ra thì vẫn coi là đẹp đẽ hấp dẫn.

Trời sẩm tối, bỗng cung thị thét lên chói tai, dọa Tứ công tử hết hồn. Người này gân cổ gọi: “Công tử, ngày mai phải gặp Thái phó, người vẫn chưa làm bài tập!”

Cả người Tứ công tử giật bắn, nháy mắt như quả hồng khô, xẹp lép.

Có thư thị bưng đĩa với chồng giấy xuất hiện, cúi đầu thưa: “Công tử, theo thần biết, ngài phải làm ba bài nghị luận về việc thiếu lương thực, mười bài thơ khen ngày tết, ba trăm bài thư pháp, còn phải… còn bị Thái phó phạt phải bài chép phạt năm trăm lần.

Tứ công tử bật dậy, gầm lên: “Các ngươi chết hết rồi hả? Mỗi ngày ta bận chuyện trong quân, nào có ở không làm những chuyện này? Sao không biết nhìn xa, giúp chủ tử làm mấy thứ này cho xong?!”

Thư thị run tay, rưng rưng nói: “Thần đã cố hết sức rồi, làm hai bài nghị luận, tám bài thơ, nhưng không dám viết thư pháp, vì… vì chữ ngài… quá đẹp đẽ phóng khoáng. Còn sách Thái phó phạt thì sẽ không xem kĩ, ta đã chép được bốn trăm lần rồi.”

Tứ công tử làm rớt đũa, cầm cây chùy, cả giận nói: “Dù sao cũng chỉ nhiêu đây, nếu lão Phúc đó mà phạt ta nữa ta sẽ liều mạng với lão ta trước mặt phụ vương! Để coi chùy của ta cứng hay thước của lão cứng!”

Thư thị quỳ trên đất, khóc ròng: “Chớ nên công tử của con ơi, nếu như cứ vậy thì chúng thần chỉ đành nhảy sông thôi.”

Đã lâu rồi Phù Tô chưa được ăn gạo thơm và rau thịt tươi ngon, chàng chôn đầu trong chén cơm, không lên tiếng.

Tứ công tử xốc eo gấu, đi vòng vòng nửa ngày, mặt mũi hung dữ, hùng hùng hổ hổ nhưng trong lòng lại chột dạ, nghĩ nếu làm không xong thì lúc lão Phúc sẽphạt mình không nương tay, cả đám anh em ai cũng tinh quái, rỉ tai méc phụ vương thì mình sẽ tiêu mất. Vì lần trước đá văng bàn, ngênh ngang bỏ đi nên bị phụ vương bắt cởi áo ngoài, dâng cành cây khô quỳ trước mặt Thái phó chịu đòn nhận tội, cả đám anh em cười nhạo hắn chuyện này suốt nửa năm trời. Nếu còn lặp lại thì…

Hắn ngước mắt, Phù Tô vẫn chôn khuôn mặt chưa lành vết thương trong chén, nho nhã khuôn phép nhưng nhanh chóng ăn cơm. Hắn đảo mắt, cắn răng hét lớn: “Ta đang nguy nan, vị huynh đệ này, ngươi cứu hay không?”

Phù Tô đưa con ngươi đen kịt nhìn hắn một cái, nhả rõ từng chữ: “Ta không biết chữ.”

Tứ công tử nói: “Bọn họ nói, ngày nào ngươi cũng đọc lén sách ta, hơn nữa lại là những quyển sách cực kì thâm thúy khó hiểu!”

Tay Phù Tô đang cầm đũa khẽ khựng lại, thong thả nói: “Trừ làm nghị luận ra, ta không can dự quốc sự.”

Vì có sự tương trợ của người am hiểu sách vở bậc nhất đế quốc, Tứ công tử thuận lợi qua ải, ngoại trừ bị Thái phó quăng bài nghị luận vào mặt thì lần đầu tiên thơ hắn viết được khen.

Nghe nói Thái phó Phúc tiên sinh là hậu nhân của thần tử Tứ Phúc được Thủy Hoàng phái đi tìm đan dược, đồn rằng tổ tiên nhà lão đã phiêu bạc trên biển rất lâu, xa tận bồng lai, nhưng lại chưa từng thấy dấu tích của thần tiên, thất vọng bỏ về, Vì sợ Thủy Hoàng trách phạt nên bèn mai danh ẩn tích, dời tới đất Trịnh, đổi thành họ Phúc, bỏ họ Từ xưa, tổ tông làm bánh mưu sinh, về sau lành nghề, kéo dài sáu bảy tám đời mới xuất hiện một người có học là Phúc Thái phó.

Phúc Thái phó là một ông lão ngang bướng, dạy học sinh đâu ra đó, lão biết ngôi vị Trịnh vương tương lai sẽ rơi vào một trong tám vị công tử này nên càng nghiêm khắc với họ hơn. Phúc Thái phó nói vua một nước mang trọng trách quyền cao, nhỏ giúp xã tắc một phương, lớn định càn khôn vạn dân, tuyệt đối không được khinh suất, dùng nguyên tắc mắng là yêu đaánh là thương nên không mấy ai trong tám vị công tử mà không hận hắn.

Lão thấy Tứ công tử khó dạy nay ngoan ngoãn nộp bài, vậy nên nở nụ cười hiếm hoi nói: “Buổi học ngày hôm nay, ta kể một câu chuyện xưa, cùng đàm luận vài chuyện thú vị cùng các công tử.”

Các vị công tử cảnh giác nhìn lão, sau đó cúi đầu thưa vâng.

Phúc Thái phó cầm thước, thoáng trầm tư, hắng giọng kể: “Các điện hạ, có còn nhớ sử Chiến quốc?”

Các công tử thưa có.

“Thất công tử, người có biết pháp chế của Vệ thị đưa ra vào năm nào?”

Thất công tử đứng dậy trả lời, “Hiếu công đã định, thiên hạ phân chia, Tần nơi man hoang, dân yếu binh mệt. Vệ Tôn Ưởng, một người hiền, làm Công lệnh, tới Nhạc Dương. Ba năm sau, dâng biến pháp, sửa hình phạt, là công thiện (* việc thiện đại chúng).”

Phúc Thái phó gật đầu: “Đúng thế. Hôm nay, thần nói về chuyện sau khi Công Tôn Ưởng nhập Tần. (*) Khoảng chừng năm thứ năm Hiếu công (**). Năm nọ, Lâm Thao thu lương vất vả, tiểu lại kho lương không chu đáo, để chuột đào  cái hang thật to chui vào kho trữ thóc giống, năm đó mưa to tầm tã mấy ngày liên tục, toàn bộ thóc giống bị mốc hỏng, nhìn là thấy ngay mấy năm tới sẽ thất thu, xác chết đói khắp đồng, thần bạo gan hỏi mỗi vị điện hạ, nếu là Tần công, sẽ làm thế nào?”

(*) Thương Ưởng là con cháu công thất Chu Văn vương trú tại đất Vệ nên còn gọi là Vệ Ưởng hoặc Công Tôn Ưởng, là nhà chính trị gia, pháp gia nổi tiếng, thừa tướng nước Tần của thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc dưới thời Tần Hiếu Công. Những biến pháp cải cách của ông ta giúp nhà Tần trở nên hùng mạnh, mở đường cho sự thống nhất của Tần Thủy Hoàng sau này; tuy nhiên hình pháp quá khắc nghiệt, ít ân đức nên sau khi vua của ông ta – Tần Hiếu công qua đời, giới quý tộc căm ghét, dẫn tới phải chết thảm. Tìm hiểu thêm ở đây.

(**) Đang nói về giai đoạn thời chiến quốc; Tần Hiếu công, hay Tần Bình vương, tên thật là Doanh Cừ Lương, là vị vua thứ 30 của nước Tần – chư hầu của nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.

Mọi người suy nghĩ một lúc, nghĩ sơ qua thì không khó, nhưng nghĩ kĩ, nhìn đích tử Hạnh một cái rồi quyết định làm bình kín như hũ nút, lão tăng ngồi thiền, không ai có ý định lộ mặt.

Phúc Thái phó cười nhạt, nhìn đám bên dưới, gọi, “Bát điện hạ nhỏ tuổi nhất, vậy phát biểu đầu tiên đi.”

Bát công tử gần tám tuổi, ‘Hả’ một cái, chỉ vào mình, các anh còn lại đều cúi gằm, không ai cứu nó, nháy mắt thấy căm phẫn dâng trào, “Đánh chết lũ chuột gây chuyện, chu di cửu tộc nhà nó!”

Thái phó gõ thước, vẫn cười , “Con nít ngây thơ, không biết lũ chuột hung hăng, con cháu nhiều vô số kể, muốn giết chín tộc nhà nó thì đã đẻ tới tộc thứ mười tộc thứ một trăm rồi. Huống chi, tuy là chuột gây ra, giết cả trăm đời nhà nó, cũng không cứu được bách tính một phương, không làm được gì.”

Thất công tử biết người tiếp theo là mình, không đùn đẩy mà dứt khoát đứng dậy, “Kho lúa quốc gia, luôn có một phần để cứu tế, phái sứ thần đi phát lương là xong.”

Thái phó nói: “Thất công tử nói rất có lý. Lão thần lại hỏi, triều ta từ khi khai quốc đến nay, có từng mở kho lương vậy chưa? Lương thực là nền tảng quốc gia, nếu kho cạn mà dân được phát đủ, bấy giờ quốc khố trống rỗng, chiến quốc binh sự, cực kì căng thẳng, nước Tần nhỏ bé, nghèo khổ khó khăn, còn đâu vị thế?”

Đại công tử là người ôn nhã, mặt hơi đỏ ửng, hắng giọng đứng lên, “Chẳng hay, chẳng hay ta là tôn thất, bắt đầu từ bên trong, mang theo quan văn võ, sách lệnh rõ rành rành, lệnh trên dưới cả nước, giảm thuế gạo một huyện, như thế thì thế nào?”

Thái phó cười hiền hòa hơn, gật đầu, “Điện hạ hiền đức, làm quân nên thế. Chỉ là, biến pháp Vệ công tôn ban đầu chưa hiện rõ hiệu quả, văn võ náo động, đối với Hiếu công, phê bình kín đáo, thế Đại phu (*) lớn, uy h**p tông thất, tuy công là hiền công, nhưng từ trên xuống dưới, lắm kẻ bằng mặt không bằng lòng, vậy phải làm thế nào?”

(*) Hiểu nôm na là một chức quan ngày xưa chứ không phải thầy thuốc đâu.

Các công tử ồ lên, đưa tay lau mồ hơi. Dù nói gì thì lão già này cũng đều có cái để phản bác lại, mình mới sống mười, hai mươi năm còn ông ấy đã bảy tám chục tuổi rồi, nói thế nào cũng không lại, biết trả lời ông ấy thế nào đây?

Đích tử Ngũ công tử Hạnh cười nhạt, đứng dậy, vạt áo xanh nhạt hơi vén lên, cao giọng nói: “Nếu là ta, một vùng Lâm Thao, phát lệnh an cư, nhà nào ở Lâm Thao, không được đủ ba đời, căn cứ theo dòng họ, phân tới ba mươi huyện, mượn khốc chính Thương quân (* chỉ Công Tôn Ưởng/ Vệ Ưởng), ban lệnh xuống cả nước, hễ là dân Lâm Thao, lĩnh lệnh đi an cư, cho dù tới nơi đâu, lệnh huyện bên cạnh sẽ, bố trí chỗ an cư. Từ ba đời trở lên, thì cứ ở Lâm Thao, Lâm cạnh tám huyện khác, dựa nghèo ít giàu nhiều, mỗi huyện quyên thóc giống, là có thể cứu dân.”

Thái phó cười càng sâu, “Trẻ nhỏ dễ dạy, nghĩ được thế này, là hiếm, hiếm lắm! Dù cả nước di dời, nhưng nếu dưới ba dời, căn cơ quá cạn nông, cưới xin vẫn còn ít, dù sao không tới mức cốt nhục phải chia lìa; thế nhưng trên ba đời, gia tộc đã đông đúc, thì không thể di chuyển, nếu mượn uy Thương quân, việc trọng chỉnh dân tịch, âu cũng là đại thiện. Thế nhưng còn một chuyện, cựu thần vẫn chưa thông, xin Điện hạ giảng giải. Dân chia ba mươi huyện, sống vất vưởng lang bạt, chưa đạt được mục đích, đã chết mất một hai; khi tới huyện được phân, gặp ma cũ huyện khác, lại mất thêm một hai, mười phần mất đi bốn, đất Tần ba tám huyện, dân sống không ổn định, há khen người ‘nhân hậu’? Sáu quân chiến quốc, chư hầu thiên hạ, có thể coi ngươi đã đắc đạo? Hôn quân vô đạo, cho dẫu vất vả, thì có được gì?”

Ngũ công tử Hạnh buồn bực trong lòng, mặt vẫn nở nụ cười, “Chỉ là lí luận suông, nếu phu tử không biết, cứ thả ta ở Tần, xem có thành sự không?”

Những người còn lại cũng không đưa ra được ý kiến nào hay, cả đám anh em bị con chuột làm cho khó dễ mà không xuống đài được. Lúc Phúc Thái phó và Trịnh vương nghị sự có nói về chuyện này, ban đầu Trịnh vương chỉ cười, sau đó sắc mặt trở nên khó coi, “Quả không ai nghĩ tới, làm thế nào?”

Phúc Thái phó vê chòm râu, thở dài, “Ngoài trừ Tứ công tử bảo phải quay về suy nghĩ thì các công tử còn lại cũng không có biện pháp nào hay. Có điều, vấn đề này mà để các công tử mới bắt đầu học hỏi công việc thì cũng hơi khó khăn, không trả lời được cũng không sao.”

Trịnh vương hừ lạnh, “Phải qua những chuyện nhỏ này mới biết thật chất thế nào.”

***

“Chuyện là, có mấy con chuột cống…” Tứ công tử tóc đỏ kể lại án trộm lương một cách cực kì sống động cho Phù Tô nghe, đám thị thư đứng bên cạnh lau mồ hôi.

“Nghe không hiểu.” Phù Tô lãnh đạm, tiếp tục cúi đầu lùa cơm. Cái gì mà ‘Nước Tần có một người họ Vệ, tên này đã gây ra không ít họa’? Cái gì mà ‘Lũ chuột cống mập mạp đáng ghét dám trộm lương’? Cái gì mà ‘Một buổi tối nọ, trời u ám, sét rầm rầm, mưa to sóng dữ, ngày hôm sau tất cả số thóc giống đều không dùng được’? Cái gì mà ‘Nếu ngươi là Tần Thủy Hoàng, mọi người trong huyện đều chết đói, ngươi sẽ làm gì’?

Không biết tinh anh của tôn thất Đại Chiêu lại giáo dục ra cái đức hạnh này, sách đọc được đều chui vào bụng chó hết rồi.

“Không phải Thủy Hoàng, là Hiếu công.” Thị thư đỏ mặt, hận không thể chui xuống lỗ nẻ.

“Không phải à?” Tứ công tử nhe răng trắng, nhíu mày khổ sở suy nghĩ, không biết đang cười hay buồn bực.

Thị thư run rẩy đau thương nói: “Xin để cho thần thuật lại cho Phù Tô công tử một lần nữa.”

Lần này thì Phù Tô hiểu rồi, chàng hỏi: “Các vị công tử nói thế nào?”

Tứ công tử nhếch miệng bình phẩm: “Bát đệ nói hợp ý ta nhất!”

Thị thư nước mắt lưng tròng, làm như không nghe thấy lời Tứ công tử, tiếp tục kể lại.

Phù Tô cầm đũa, ‘Ừ’ một tiếng, ý bảo đã hiểu.

Tứ công tử gào lên, “Nhân tính của ngươi đâu rồi? Ngày mai ân nhân cứu mạng của ngươi sẽ ăn roi mà bây giờ ngươi còn ăn được à?!”

Phù Tô cảm thấy nếu cho ăn roi mà khiến đầu óc của đám anh em họ này có thể tỉnh táo sáng suốt ra thì cũng nên đánh lắm.

Chàng gật đầu thản nhiên, tỏ ý đã hiểu, cũng ý bảo mình còn định ăn tiếp.

Tứ công tử đập đầu vào bàn, “Đến lúc đó, Thái phó và Phụ vương chê ta vô dụng, Phụ vương mắng ta con người ngoài trừ vũ lực, đánh giặc thì không biết gì hết. Đọc sách khó vậy, chẳng lẽ Phụ vương muốn tất cả những người họ Thành cũng giống như tay Thái tử đã chết kia, trong vòng mười năm ngắn ngủi mà có thể đọc hết sách trong tàng kinh lâu à?”

Tay Thái tử đã chết đọc sách từ lúc sáu tuổi đến năm mười sáu tuổi, đọc hết sách trong tàng kinh lâu lớn nhất của quốc đô Đại Chiêu, nghe bảo trong đó có ba vạn quyển sách cổ, một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày, mười năm là ba ngàn sáu trăm năm mươi ngày, rốt cuộc chàng đã làm thế nào để đọc hết ba mươi ngàn quyển sách đó thì đến giờ vẫn còn là một điều bí ẩn.

Phù Tô cúi đầu không đáp, ăn xong miếng cơm cuối cùng mới nói: “Chuyện này không có đáp án chính xác nào hết. Nhưng, có lẽ trong lòng Trịnh vương điện hạ và Thái phó đã có một đáp án rõ ràng rồi, chỉ là công tử các người không đoán ra mà thôi.”

***

“Đệ tử cho rằng, đất Tần quốc cằn cỗi, không hợp để di chuyển, nhưng có thể mượn lương Ngụy quốc.” Tứ công tử trả lời rành mạch, nháy mắt mặt Thái phó biến sắc, lầm kêu không ổn.

Các vị công tử đang ngồi lặng ngắt như tờ, trán Tứ công tử rịn mồ hôi, Phúc Thái phó trầm mặc một lúc lâu mới mở miệng: “Nói thế là sao?”

Tứ công tử nhìn trời đọc thuộc lòng: “Ngụy vốn giàu có đông dân, luôn dòm ngó Hàn quốc ở bên cạnh từ lâu, phía nam ngang hàng với Sở, đông lại đang ở thế gọng kiềm với Tề, nếu Ngụy đồng ý cho mượn lương, Tần có thể đồng ý rang, một khi Ngụy công Hàn, sẽ cho mượn đường ở Hàm cốc quan.”

Mắt Phúc Thái phó lóe tinh quang, cười lạnh: “Hàm cốc quan là nơi quan trọng tới mức nào, trong nước bất ổn, còn muốn cõng hổ về làng! Nếu chúng mượn Hàm cốc quan rồi phản công Tần, lúc đó nên làm thế nào?”

Tựa như Tứ công tử đã đoán trước, đáp rằng: “Tuy quốc lực Tần quốc yếu, nhưng cơ hội cũng nhiều. Một là Tần ở nơi hẻo lánh dễ thủ khó công, Ngụy muốn liên kết với Tần để tấn công phía đông, lợi nhiều hơn hại, sẽ biết đây không phải là lúc, xung quanh dễ gặp dịch; Hai là, nếu Ngụy nuốt Hàn, ắt Sở, Triệu sẽ đứng ngồi không yên. Như thế, Tam quốc giao chiến, Tần có thể đắc lợi.”

Sắc mặt Thái phó nháy mắt tối sầm, “Dân tình không sống nổi, quân không nghĩ cách cứu dân, lại muốn coi dân sinh là tốt thí, tranh thủ cơ hội mưu chiếm thiên hạ, nếu công tử mà được làm quân, đúng là khéo nịnh!”

Nháy mắt mặt Tứ công tử buồn so, không còn vẻ sáng sủa thái quá như bình thường, cười khổ, đưa mắt nhìn các anh em. Vẻ mặt bọn họ thật sự rất khác nhau, nhất là Hạnh, mặt mũi gần như vặn vẹo.

Tứ công tử lầm bầm cái gì đó, mọi người đều không nghe thấy.

***

Một nhà giàu mới nổi ở Thất thương – Hữu Tô thị gia treo cờ một mặt, nền màu đen, trên vẽ cái gì trông giống vật tổ của bộ lạc ngày xưa, bút pháp lúc đậm lúc nhạt, có phần linh thiêng kì quái. Hữu Tô lão gia ôm bình ngọc, mang cái bụng bự đi tới đi lui trong sân viện lộng lẫy chói lóa.

“Cha!” Đại cô nương mặc một bộ màu đỏ, chớp chớp đôi mắt quyến rũ, chầm chậm bước tới.

Hữu Tô lão gia run rẩy,“Ta là cha ngươi chứ không phải cha nuôi (* giống nghĩa từ sugar daddy)! Bày cái vẻ quyến rũ đó cho ai xem?”

Đai cô nương dĩu môi: “Ở trong cả ngày bức bối, chán muốn chết. Ngươi làm cha rồi, ở nhà này là lớn nhất, nghĩ cách giải sầu đi.”

“Đi giùm!” Hữu Tô lão gia xua Đại cô nương một cách mất kiên nhất, “Gọi muội muội ngươi tới đây. Đêm nào nó cũng xem khí, có xem ra được gì không? Rốt cuộc muốn gả cho ai?”

Dại cô nương hừ một tiếng, lắc mông mà mắng: “Cứ nhìn khói đen của mấy nhà trên phố này đi, đâu ra mấy kẻ thiện tâm? Phát khói xanh không phải ăn xin cũng là nô tì, không lọt vào mắt của con nha đầu lén lút kia! Nó mỏng manh yếu ớt mà mẹ biến thành bộ dáng vậy, không tự soi vào bãi nước tiểu xem mình có hợp không! Lòng cứ lo gặp sét đánh, khuôn mặt đó mà sao thành cô nương nhà chúng ta?”

Chỉ chốc sau, Ngũ cô nương nước mắt lã chã đi tới, Hữu Tô lão gia nhìn nàng, thấy càng giống như một quả lê lớn có chân.

Hữu Tô lão gia hắng giọng, uống một ngụm trà cái ực, mặt ôn hỏa hỏi: “Bà cô ơi, đã nhìn thấy được gì chưa?”

Ngũ lí nhí thành khẩn nói: “Cha à, ta không muốn gả cho người ta, ngài có thể nói với mẹ ta được không?”

“Vì sao?” Hữu Tô lão gia cười.

“Hồi… Hồi ta còn bé…” Giọng Ngũ cô nương càng nhỏ hơn.

“Cái gì, cái gì?” Hữu Tô lão gia không nghe rõ, vểnh lỗ tai, ria mép cũng run theo.

Bỗng nhiên Ngũ cô nương đưa tay ôm khuôn mặt mũm mĩm, khóc nức nở.

Hữu Tô lão gia phải dỗ cả buổi trời mới ổn lại, thút tha thút thít kể lại nguyên do. Chuyện này cũng chả có gì lớn nhưng qua đánh giá của Hữu Tô lão gia, xác nhận bóng ma tâm lý khá nghiêm trọng.

Lúc Ngũ cô nương chưa hóa thành người, các anh trai đều xuống nhân gian tìm nhân duyên, kể cho nàng nghe dưới đó đẹp thế nào, rực rỡ gấm hoa ra sao nên rất có hảo cảm với trần gian. Đi xuôi theo Đạm hải dưới Linh Bảo sơn về trước là có thể đến được nhân gian. Hồi Ngũ cô nương còn bé thì cũng là một con hồ li khờ khạo to gan, tranh thủ buổi tối nhảy xuống Đạm hải, tiểu hồ ly này bơi theo dòng nước. Nàng cứ bơi cứ bơi, bơi hồi lâu, bơi tới mức cả một thân lông đỏ đều ướt nhẹp, bơi tới mức kiệt sức, tới khi trời bắt đầu hửng sáng, sông ngân cũng bị mặt trời bốc hơi thì mới tới được một vũng nước cạn. Ở đó toàn là sỏi, tiểu hồ ly xù lông, lên bờ.

Bên bờ có một tiểu yêu quái đang ngồi bẻ khoai lang, mặt lấm tấm tro. Nàng đói lắm, rụt rè nhìn củ khoai lang trong tay tiểu yêu quái. Vậy mà hình như tiểu yêu quái kia không nhìn thấy nàng, vừa ăn ngấu nghiến vừa ch** n**c mắt.

“Cậu có biết con người ở đâu không?” Tiểu hồ ly nhỏ giọng hỏi nhưng mắt nhìn chằm chằm vào củ khoai trong tay tiểu yêu quái.

Tiểu yêu quái òa khóc, át tiếng hỏi đường của tiểu hồ ly. Cậu vừa khóc la vừa hung hăng lột vỏ khoai, “Vì sao không chịu thừa nhận ta! Vì sao nói ta là yêu quái, vì sao muốn vứt bỏ ta! Có chết ta cũng không bỏ qua cho các người!”

Tiểu hồ ly ngồi bên cạnh tiểu yêu quái, nàng nhìn vẻ đau thương của cậu, bèn giơ tiểu móng vuốt đỏ chóe vỗ vai tiểu yêu quái nói: “Ừm, cậu do mẹ cậu sinh ra, đừng có buồn, ta cũng do mẹ ta đẻ ra nè. Cậu ra thế này, cậu là yêu quái, ta cũng là yêu quái. Nhưng mà nhìn xem, ta xấu hơn cậu quá trời, ít ra cậu còn giống con người hơn ta còn gì.”

Tiểu hồ ly tưởng giống người là tiêu chuẩn xinh đẹp duy nhất nên nàng rất hâm mộ những tiểu yêu quái có thể biến thành người.

“Hồ ly tinh!” Rốt cuộc tiểu yêu quái mới chú ý tới con hồ ly bên cạnh mình, đang đặt mông ngồi trên sỏi, hét lên: “Hồ ly biết nói, á mẹ ơi!”

Khoai lang của tiểu yêu quái rớt xuống, tiểu hồ ly nhào vào cái bụng nhỏ mềm mềm thật nhanh, hỏi cậu: “Dơ mất rồi, cậu còn ăn nữa không?”

Giọt nước mắt trong mắt tiểu yêu quái rơi xuống, cậu kinh ngạc nhìn tiểu hồ li, lúc sau mới khoát tay, đau lòng nói: “Đây là củ khoai lang cuối cùng ta trộm được trong bếp, ăn rồi cũng chết đói thôi. Sớm muộn gì cũng phải chết, cậu ăn đi.”

“Vì sao cậu lại ở đây? Cha mẹ cậu đâu?” Tiểu hồ ly vừa bẻ khoai vừa hỏi.

“Mẹ ta sinh ta xong, chưa được hai năm thì qua đời.” Tiểu yêu quái lại ch** n**c mắt, cậu khẽ cắn môi, kiềm lại rồi nói: “Cha ta nói ta là yêu quái, không chịu nhận ta, Dằng Cơ là dì của ta, đi theo hồi môn của mẹ, bà lén nuôi ta trong biệt viện. Bây giờ ta đã năm tuổi, cần phải đi học đã nói thật với cha ta, xin ông cho ta được vào Tông học. Sáng nay có mấy thị vệ tới, ta cực kì vui, mặc bộ áo quần đẹp nhất để bọn họ dẫn ta về nha, kết quả bọn họ lại ném ta vào rừng sâu.”

Tiểu hồ ly nghe xong cũng rớt nước mắt. Mắt nàng to tròn, ngập tràn giọt nước mắt thấu hiểu, “Thì ra cậu là người. Không phải con người tốt lắm à? Vì sao lại muốn vứt bỏ con của mình chứ?”

Tiểu yêu quái tuyệt vọng nhìn trời, thở dài một hơi, “Vì sao chứ?”

Tiểu hồ ly thiện lương cõng tiểu yêu quái rời khỏi rừng rậm. Tranh thủ đêm khuya tối trời, tụi nó lén vào thành, tiểu yêu quái nói cậu chưa từng nhìn thấy cha mình trông thế nào, cậu muốn được gặp cha một lần rồi cũng yên lòng mà chết.

Tuy tiểu hồ ly còn nhỏ nhưng dù sao cũng là yêu quái của tộc Hữu Tô, biết một chút pháp lực. Nàng bọc tiểu yêu quái bằng lông, sau đó giấu trong người. Bọn họ leo lên tường cao, đi tới nơi phú quý chốn trần gian.

Chốn phú quý toàn đình đài lầu các, nhà cao cửa rộng, thậm chí góc chạm khắc ở nóc nhà ở đây cũng được khắc bằng ngọc. Tiểu hồ ly nhìn mê mải, nàng và tiểu yêu quái kia, à, cậu bé tóc đỏ kia ngước nhìn chăm chú, như con ếch vừa thoát khỏi đáy giếng ngục tù, hoàn toàn bị mê hoặc.

Tiểu hồ ly hưng phấn cười khanh khách, “Đây là trần gian sao, đẹp quá đi. Ta chưa từng nhìn thấy nơi nào đẹp như thế này.”

Cậu bé tóc đỏ cúi đầu, “Nơi này vốn là nhà của ta.”

Tiểu hồ ly dùng lông che kín cậu, nói: “Đừng lo. Người ở nơi đẹp thế này thì ắt hẳn tấm lòng cũng thiện lương lắm. Chẳng qua cha cậu chưa gặp cậu thôi, cậu trông đẹp đẽ thế này, chắc chắn ông ấy sẽ thích cậu thôi.”

Cậu bé tóc đỏ giật mái tóc của mình, ánh mắt trở nên thật u ám. Cậu nói: “Nếu có pháp thuật biến tóc ta thành màu đen thì tốt quá.”

Tiểu hồ ly đồng tình lấy mũi cọ vào cậu, nói: “Ta có thể đổi tóc cậu thành đen, nhưng mẹ ta dặn trẻ ngoan thì đừng làm trò lừa dối. Cậu đi gặp cha cậu, sau đó nói cho ông ấy biết cậu rất nhớ ông ấy. Nếu ông ấy đồng ý giữ cậu lại, cậu phải nói cho ông ấy biết tóc mình sẽ bị đổi thành màu đỏ. Còn nếu ổng vẫn muốn vứt bỏ cậu thì ta sẽ dẫn cậu rời khỏi trần gian.”

Hai mắt cậu bé tóc đỏ sáng rực, gật lia lịa. Tiểu hồ ly dùng móng vuốt tạo thành hình chữ thập, kẹp chặt tay, lẩm bẩm nói mấy câu, một lúc sau lấy một cái túi màu đỏ từ dưới nách ra.

“Đây là hương của họ Hữu Tô, cậu thả nó lên người, tập trung nghĩ tới hình dạng mà cậu muốn trở thành là được.” Nàng dùng móng vuốt để chải cho cậu bé tóc đỏ một cái búi tóc thật đẹp, sau đó đẩy cậu ra khỏi vòng tròn bảo vệ của mình, rít lên một tiếng thật dài, trong đêm tối mịt, kéo thị vệ xung quanh rời khỏi, sau đó từ từ biến mất, nhỏ giọng nói: “Lát nữa ta sẽ tới lấy hương, cậu phải cất kĩ nha, nếu không có hương thì ta sẽ từ từ mất đi toàn bộ pháp thuật, trở thành một con hồ ly bình thường.”

“Sau đó…” Ngũ cô nương lại chực khóc, Hữu Tô lão gia đang cố kiềm chế sự hào hứng cắt lời: “Sau đó, cậu ta biết hương đó có lợi thế nào, không chịu trả lại cho cô, đúng không?”

Hương của nhà Hữu Tô là món đồ tốt. Tộc hồ ly tinh muốn hóa thành người đẹp thì phải có hương này mới được. Hương càng nồng thì mặt càng đẹp, càng mê người.

“Không đơn giản vậy.” Thu Lệ lại ràn rụa nước mắt, “Cậu ta thừa dịp ta mất pháp thuật, sau khi hiện thân thì sai người bắt ta, nhốt vào phòng bếp. Ta mất đi linh thức, càng ngày càng suy yếu, khi tỉnh dậy thì đã bên cạnh mẹ rồi. Bà đã cứu ta, giúp ta tìm lại hương, nhờ đó ta mới có thể hóa thành người.”

Hữu Tô lão gia nghĩ bụng, chẳng thà không hóa thành người. Lúc đứa bé này còn là hồ ly thì cực kì xinh đẹp, thành người thì ngược lại chẳng ra sao.

“Còn thằng bé tóc đỏ kia thì thế nào?” Hữu Tô lão gia hỏi.

Thu Lê ngẫm nghĩ, hơi mơ màng, “Lúc đó mẹ đứng trong rừng, bà bế ta, dịu dàng thi lễ với cậu bé đứng đằng xa, như muốn cảm ơn đứa bé kia. Nhưng mà đứa bé đó tóc đỏ, chính là tiểu oan gia đã hại ta.”

Tóc đỏ?

Hữu Tô lão gia cười nhạt, trong thời tiết se se lạnh, cành ô mai cách đó không xa từ từ nở hoa, trong khoảnh khắc đẹp đẽ đáng họa, giọt mực đông cứng nơi đầu bút, có một mùi hương ngan ngát.

***

Trời lại lạnh hơn, còn nửa tháng thôi là tới tết. Năm nay Tử công tử mới tròn hai mươi, được thưởng cho một tòa nhà, bị đuổi ra khỏi Trịnh vương cung. Nhưng nhờ thế mà Phù Tô dưỡng bệnh trốn họa ở đây cũng an tâm hơn.

“Ngươi vẫn đọc sách à, sách thì có gì hay?” Tứ công tử đang nghịch đao, hoa tuyết bị hất bay, dễ dàng đập đao xuống quyển sách nằm trên áo bào của Phù Tô. Chiêu này của hắn rất đẹp, dưới mặt trời ngày đông, hàm răng trắng muốt và lưỡi đao bén ngót đều rất chói mắt.

Phù Tô v**t v* mặt đao, giương mắt nhìn hắn, chậm rãi nói: “Đẹp.”

“Ngươi muốn thi Trạng nguyên, làm Kinh quan hả?” Tứ công tử cầm cái khăn gấm tì nữ đưa tới, lau mồ hôi cười nói, “Nếu chí hướng ngươi nhỏ hơn thì ta có thể tiến cử ngươi làm quan ở Trịnh địa này đấy.”

“Ta không làm quan đâu.” Phù Tô lắc đầu, “Mẫu thân nói, nếu có ngày ta không làm quan được thì phải trốn cho thật xa. Bà hy vọng ta có thể cưới một nữ tử hiền lành xinh đẹp, sinh vài đứa con, không lo cơm áo.”

Tứ công tử ngẩn người, cười một cái để lộ lúm đồng tiền nho nhỏ ở khóe môi bên trái. Hắn bảo: “Ban đầu mẹ ta cũng nói giống mẹ ngươi, sau này lại không nói vậy nữa. Trước khi chết, bà muốn ta ở đây cả đời.”

“Công tử, Đại công tử, Nhị công tử và Ngũ công tử đến thăm.” Quan thị vệ cắt ngang cuộc đối thoại của hai người.

“Ai cho thứ ngu xuẩn như ngươi lắm mồm?” Có vài bóng người từ phòng khách thong thả bước tới, chưa thấy người đã nghe tiếng cười mắng quan thị vệ của Tứ công tử, “Mấy ngày nay không chỉ bài tập của Tứ đệ đã giỏi hơn mà cũng không còn thích cướp rượu với bọn ta nữa, ta tới xem trúng tà gì, hay là… đang giấu ai đó, cùng thức đêm đọc sách (*)?”

(*) Nguyên gốc: Hồng tụ thiêm hương.

Tứ công tử nháy mắt với Phù Tô, Phù Tô đi qua cổng tròn tới vườn hoa bên cạnh, lánh mặt đi.

“Tứ ca.” Ba người thiếu niên đi tới, Hạnh hành lễ một cách lạnh nhạt với Tứ công tử rồi thản nhiên không coi ai ra gì, ngồi xuống ghế đá, ngửi hương trà còn lưu trên bàn, cười nói, “Tứ ca giấu người thật à? Trà còn ấm này.”

Tứ công tử cầm ly trà, uống cạn một hơi, cười nói: “Ta vừa múa đao xong, Tuấn mi (*tên loại trà) vừa pha, mọi người vừa tới.”

Người vừa lớn giọng trêu chọc là Nhị công tử, anh ta nói: “Ngũ lang nhà chúng ta còn lạ gì Tuấn mi. Phụ vương vừa thưởng đệ ấy hai lượng La chu, là loại mới hái năm nay. Lúc sứ giả nước Sở tới, tâu rằng Bát vương thúc cố tình để lại cho Phụ vương, toàn bộ nước Sở chỉ có một cây này thôi, vậy Phụ vương chỉ chớp mắt một cái, à không, còn chưa kịp chớp mắt thì đã ban cho Ngũ đệ.”

Lông mày của Tứ công tử lộ ý cười càng sâu, hắn nói: “Trước nay Phụ vương luôn yêu thương Ngũ đệ, La chu phối Ngọc lang, không thể nào xứng hơn.”

Hạnh có vẻ ngoài rất đẹp, ở Trịnh quốc xưa nay có danh xưng là ‘Tiểu Tống Ngọc’(*). Nhưng Ngũ công tử lại rất ghét cách gọi này, không thích người khác bàn luận về vẻ ngoài của mình, càng không thích nghe người ta trêu chọc. Tuy bây giờ Tứ công tử khen ngợi thế, Ngũ công tử lại cảm thấy chán ghét, lạnh lùng nói: “Ta mà Ngọc lang gì? Nếu cùng Tứ ca ra ngoài thì người khiến các nữ nhân dựa vào đầu tường nhìn lén không tới phiên Hạnh.”

(*) Tống Ngọc là một mỹ nam nổi tiếng thời Chiến quốc.

Đại công tử Bá Thanh khẽ đẩy Hạnh, thầm ôm trán. Bọn họ kéo một nhóm tới đây vốn để mượn sức Tứ công tử, này ngược lại như đang muốn minh thương ám tiễn. Dù Tứ công tử có mái tóc đỏ rực, hình dáng khác người, khiến kẻ chê bai, Phụ vương không thích nhưng chẳng hiểu sao Phụ vương lại để hắn trông coi binh mã ty, khiến anh em bọn họ muốn coi thường cũng không được.

Hạnh vừa nói xong cũng thầm hối hận, định nói gì đó gỡ gạc thì Tứ công tử lại đắc ý cười ha hả, “Tiểu Ngọc lang nói vậy là đang khen ca ca là Đại Ngọc lang hả.”

Mọi người đều tái mặt. Sao thần kinh gì mà có thể thô như thế?

Phù Tô đang trốn trong bụi hoa bị hương hoa nồng ép đến muốn nhảy ra, chàng cảm nhận được một sự kì quái khó nói, lấy tay áo che mũi, lặng lẽ đưa tay che lại nh** h**. nh** h** cứng ngắc, con ngươi đen thẳm nhìn cảnh hoa tươi khoe sắc.

Đây là ần đầu tiên chàng tới vườn này, trước đây toàn lánh trong phòng khách để dưỡng bệnh.

“Vườn hoa của Tứ đệ vẫn luôn khoe sắc rực rỡ như vậy. Mùa đông mà vườn hoa vẫn đẹp thế này thì chỉ có Tứ đệ thôi.” Đại công tử ôn tồn nhã nhặn nói.

“Tứ đệ, đây là tật xấu, phải chữa. Thích những thứ nửa sống nửa chết thì thôi, nhưng thích hoa giả hoa giấy là sao? Dù trông nó nở rộ vậy nhưng lại không có ý nghĩa, chẳng bằng hoa thật thướt tha nhiều dáng hình.” Nhị công tử lắc đầu, không tán đồng.

Hoa này là giả, lá cũng giả. Phù Tô chạm vào là nhận ra ngay, những hoa này rực rỡ như thật, nhưng chỉ là hoa giấy mà thôi, được nhuộm màu, gấp thành hình.

“Ta trước nay tập võ, là một kẻ thô thiển không đọc nhiều sách, không hiểu ý nghĩa gì, chỉ thích náo nhiệt. Mỗi loài hoa có thời gian nở khác nhau, muốn tất cả loài hoa cùng nở, vĩnh viễn không tàn thì chỉ có cách này thôi.” Tứ công tử nở nụ cười, quẹt mồ hôi, nói với Ngũ công tử Hạnh, “Ngũ lang, đệ nhìn ở kia xem, tất cả mẫu đơn và trúc phượng vĩ đó đều do ta tự xếp hết đó.”

Mẫu đơn? Trúc phượng vĩ?

Hạnh thấy như rơi vào băng lạnh. Tứ công tử có ý gì? Ám chỉ đang đối địch với y, muốn tuyên chiến với y sao? Muốn nếm thử mùi vị làm vua à?

Các anh em Trịnh vương thất cười đùa rời đi rồi, Phù Tô mới từ từ đứng dậy, rời khỏi bụi hoa giả.

Đám hoa giả này chỉ trải qua một trận gió thổi mưa rơi là rơi gãy, tan tác ngay trong đêm, đâu có dễ dàng như Tứ công tử nói, hễ sáng làm xong thì không cần để ý nó một ngày, hai ngày, một năm, hai năm. Chăm hoa giả càng cần phải để tâm, lo lắng coi ngó nhiều hơn hoa thật. Một kẻ trồng hoa giả, tâm tư như vậy nhưng bề ngoài thì lại tỏ ra hào sảng thô lỗ, không khỏi khiến người ta cảm thấy… sởn tóc gáy.

Phù Tô lẳng lặng nhìn vườn hoa rực rỡ sắc màu, lúc gió bắc thổi tới, thở ra hơi lạnh thì mới biết, đông đã tới từ khi nào.

Lúc mới vừa chớm đông, chàng bị Hề Sơn quân vứt bỏ. Ban đầu nghĩ sắp trải qua cái tết nghèo khốn ở Hề Sơn rồi ấy chứ, nhưng bây giờ thì đỡ rồi. Chỉ là nay nhìn lại, tâm cơ của Tứ công tử có vẻ thâm sâu khó lường, e rằng cũng chẳng thể ở đây lâu. Có điều thể nào cũng sẽ được ăn tết đầy đủ gạo thịt, không bị đói khát bủa vây xung quanh, vô phương chống đỡ.

Chẳng biết sao, chàng lại nhớ khuôn mặt cười vui của đám ngốc ở Hề Sơn rồi.

***

Hữu Tô lão gia mua ba ngàn con tuấn mã ở chỗ biên giới với người Hồ, định mở nông trại. Người ở Trịnh quốc kinh hãi, chỉ có kẻ tỉnh táo mới nhận ra nhà này không chỉ có nhà cao cửa rộng hơn mấy phú hào bình thường đâu, tư thái thế này thì hẳn là phải thuộc hàng Đào Chu Mục Nho (*) đấy.

(*) Đào Chu mình hiểu là chỉ Phạm Lãi, còn gọi là Đào Chu công, một nhà chính trị và cũng là một thương nhân trong suốt thời gian ẩn danh. Mục nho thì mình đoán là một nhân vật tương tự, nhưng hiện chưa có thông tin.

Cô nương nhà họ ra vào khỏi cửa cũng tỏ ra xa hoa lắm, năm cái xe ngựa kéo lượn một vòng quanh Thất thương, hương sắc ngời ngời, hoa quan công bá (*), cả Trịnh vương và các vị công tử cũng đề phòng.

(*) Năm tước phong kiến gồm công hầu bá tử nam, hoa quan ý chỉ mão trên đầu rất xa hoa tráng lệ như của giới quý tộc.

“Thần đã xem gia phả các đời mà Hữu Tô gia trình lên, hình là thân thích với triều Chu. Sau khi Tần hoàng thống nhất thiên hạ, bọn họ ẩn nơi núi rừng, không màng thế sự. Nay nhập biên giới Trịnh quốc, gióng trống khua chiêng như vậy, e có mưu tính chi đây.” Thái phó Phúc đại nhân cau mày bẩm báo. Ông ta chỉ biết tộc Hữu Tô thị ở Thương triều Ký Châu, không ngờ còn một chi tộc ở Chu vương triều. Nhưng văn giám gia phả này không thể làm giả, chứng cứ xác thật, khiến người ta phải tốn công suy nghĩ.

Chỉ là, bọn họ khoe khoang gia thế như vậy là có ý gì?

“Phúc khanh, suy nghĩ kĩ lại, ba ngàn con tuấn mã thì…” Giọng nói Thành Cư (*Tên của Trịnh vương) thâm sâu.

Mắt Phúc đại nhân sáng trưng, quỳ gối thưa: “Thần suy xét không chu toàn, thế mà lại chưa nghĩ tới đây! Sao ông ta… sao ông ta lại biết đại vương đang xây doanh trại cung kị binh?”

Thành Cư mỉm cười, hai mắt nhắm lại, “Hữu Tô thị đang lấy lòng bổn vương. Cô nên ban thưởng cho cái gì đây nhỉ?”

Trong điện đốt hương, khói phun từ miệng rồng từ từ bay ra che khuất khuôn mặt của Trịnh vương Thành Cư. Trong sự mơ hồ đó, lão Thái phó bỗng phát hiện trong tám vị công tử, người trông giống ngài nhất lại không phải là Hạnh.

Ông ta nhớ tới khi người phụ nữ kia hấp hối, đau đớn hít thở, chết không nhắm mắt, huyết lệ chảy ra từ khóe mắt và khuôn mặt khóc nức nở của đứa bé tóc đỏ.

“Phúc khanh.”

“Vâng, có thần.”

“A Vân năm nay bao nhiêu rồi?”

***

“Con tên là gì?” Đôi tay dịu dàng xoa nhẹ khuôn mặt cậu bé.

“Con tên… Thần tên là Quý Duệ.” Cậu bé tóc đỏ hơi do dự xoay người, đưa mắt nhìn mẹ mình.

“Điện hạ, đây là Tứ tử ta mới nhận nuôi. Mẹ đẻ của nó là người Di, qua đời sớm.” Mẹ nó cười nhẹ, “Điện hạ nhà ta nhân từ, không trách  đã nhận nuôi đứa bé này. Tư chất nó ngu dốt, cũng không thích nói chuyện.”

Đôi tay dịu dàng kéo đứa bé tóc đỏ vào lòng, đôi mắt sáng ngời quan sát nó: “Chà, trông được đấy. Con của A Tương và con của ta đều giống nhau, là quà tặng đặc biệt mà thần linh ban cho họ Thành.”

“Nô tỳ hoảng sợ. Thằng bé hèn mọn ti tiện, nào có thể so sánh với Thái tử điện hạ được?” Mẹ nó cúi thấp đầu. Nó nhìn mẹ, cũng bắt chước bà, tự ti cúi đầu theo.

“Không, chúng giống nhau cả.” Đôi bàn tay dịu dàng đó vẫn kiên định nâng đầu nó lên, mỉm cười nói: “Thái tử cứ cô đơn mãi, Quý Duệ à, hiếm có dịp lên kinh, có gì con chơi với nó nhé.”

Cậu bé tóc đỏ ngơ ngác nhìn xung quanh, ở đằng xa kia, có một đứa bé mặc quần áo màu đen, đứng dưới tàng cây, ngẩng đầu như đang nhìn cái gì đó.

Cậu bé tóc đỏ đi tới bên cạnh cậu bé còn nhỏ hơn mình, hỏi: “Thái tử điện hạ, ngài đang nhìn gì thế?”

“Ồ, tóc đỏ à.” Đứa bé chỉ vừa tròn ba tuổi nhìn tóc nó, không chớp mắt.

Nó tự ti rụt đầu vào cổ, thế nhưng Thái tử điện lại sờ mái tóc đỏ kia, ngơ ngác nhìn một lúc lâu mới cười nói: “Thú vị quá.”

Sau đó, Thái tử điện hạ dời mắt, nhìn cái cây nói: “Không biết tại sao mẫu hậu nương nương lại ném quả cầu của ta lên cây, ta đứng dưới tàng cây đợi cả buổi chiều nhưng nghĩ hoài mà không tìm được cách nào. Huynh có biết trèo cây không?”

Hoàng hậu xinh đẹp cao quý ở xa nghe thấy lời Thái tử nói, không nhịn được khẽ nhếch khóe môi cười.

Quý Duệ nhìn khuôn mặt buồn bã ngơ ngác của Thái tử bé xíu xiu, rõ ràng không hề có chút ác ý gì với mái tóc đỏ, cũng chẳng nói bất cứ câu chế nhạo mỉa mai gì về mẹ của nó, không hiểu sao trong lòng cảm thấy thật ấm áp, không nhịn được muốn khoe khoang, nhanh nhẹn nhảy phốc lên trên đại thụ cao vót.

Nó cố gắng rút quả cầu ra, ngồi trên cành cây, huơ tay về phía Thái tử điện hạ. Tiểu Thái tử ngẩn ra nói: “A, giỏi quá, lấy được rồi.”

Nghe thấy lời khen ngợi chân thành ngây thơ không chút che giấu ấy, Quý Duệ nở nụ cười. Tiểu Thái tử nhìn đường huynh đang đứng dưới mặt trời gay gắt, nheo mắt nói: “Ta tên là Thành Anh, huynh có thể gọi ta là A Anh.”

Quý Duệ đang ở trên cây đại thụ cao cao, đung đưa hai chân, vui vẻ vỗ hai tay, há miệng trả lời, “Ta tên là…”

Tên là… gì?

Trong giấc mộng xa xăm mơ màng Phù Tô chợt tỉnh

***

Trịnh vương ban ý chỉ: Vốn Hữu Tô thị, quý tộc triều Chu, thân phận tôn quý, nay dời tới Trịnh, góp sức giúp dân, công với xã tắc. Nay nghe bảo rằng, nhà có hiền nữ, có thể lương phối, với con của Cô.

Dân đất Trịnh ngơ ngác nhìn nhau. Chỉ này lạ kì quá. Dù Hữu Tô gia có tiền thật đấy, nhưng sao nay thành quý tộc tiền triều, sao lại tôn quý thế rồi? Huống chi nhà đấy có tám người con trai, nhà này có năm cô con gái, phối sao cho đẹp đây? Chẳng lẽ đường đường là một điện hạ mà còn thèm muốn sản nghiệp giàu có của thương gia? Không khỏi nực cười lắm sao.

Thế nhưng ý chỉ của Trịnh vương đã được ban xuống vậy đấy.

Tối đó, trong tám công tử có bảy người không ngủ được. Vì ngoại trừ Bát công tử mới lên tám thì những người khác đều là hoa đang chớm nở, ở tuổi cưới xin.

Chúng môn hạ mưu thần nghĩ tới nghĩ lui, đều cùng cho rằng không thể tiếp nhận ý chỉ này của Trịnh vương, quá là thiếu văn hóa, ai mà tiếp thì không có quả ngon mà ăn. Nghe bảo Hữu Tô thị sẽ dành toàn bộ gia sản cho cô con gái thứ năm, Trịnh quốc mãi chưa lập thế tử, Trịnh vương cả ngày toàn hết giỡn với đứa này, mắng mỏ đứa kia, trừ Hạnh là đích tử được sủng ái thì bất kì ai ra mặt tiếp nhận ý chỉ này thì như đang muốn nói với Trịnh vương điện hạ rằng, Cha, ngài thấy bây giờ con là một thế tử, không biết đợi khi ngài chết xem có thành Trịnh vương được không ha?

Tất cả mọi ánh mắt đều tập trung vào Ngũ công tử Hạnh.

Từ nhỏ Hạnh đã luôn cao ngạo, sao chịu cưới một cô gái xấu xí lại không rõ lai lịch? Hắn thầm căm tức, nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra ôn hòa, dù thế nào cũng nhất định không chịu đáp lời. Ý chỉ này nói ‘Con của cô’, con ruột con nuôi của Cô nhiều thế, bản công tử cứ không tiếp chỉ đó, tính làm gì?

Chống cự chưa tới hai ngày, Đại công tử không ngồi yên nổi, tìm Hạnh thương lượng, hay là để hắn tiếp cho? Chị dâu của đệ là một người rất hiểu chuyện, để cô nương nhà Hữu Tô làm quý thiếp công tử thì cũng coi như nể mặt lắm rồi.

Khuôn mặt Hạnh đang sa sầm như thể ướp đá mà cũng bốc mùi nghe vậy hòa hoãn một chút thì Tứ công tử Quý Duệ lại quỳ gối trước tẩm cung Trịnh vương, dập đầu tiếp chỉ. Trong phủ các vị công tử lập tức như ong vỡ tổ. Cái thằng Tứ tóc đỏ này, rốt cuộc uống sữa gì mà lớn gan thế! Ngươi chỉ là một thằng con nuôi, có chút quyền nhưng không thế, hậu viện chẳng có mẹ ruột thủ thỉ bên gối nói giúp mà sao dám công khai, ngang nhiên có ý đồ muốn tiếp nhận chỉ dụ làm thế tử tương lai?

Ngũ cô nương Thu Lê nhà này nghe bảo người tiếp chỉ là thằng tóc đỏ nhà Trịnh vương, vỗ đùi khóc òa. Đây là tiểu oan gia kiếp nào tu thành vậy, sao lại còn gặp hắn nữa? Thành thân rồi, nếu hắn biết nàng là con tiểu hồ ly trước đây thì không chừng sẽ lột da nàng làm đệm lót mông đó?

Nàng khóc lóc tìm cha, ông ta đang thong thả uống rượu, vo hột đậu phộng, ngâm bài ‘Quan Thư’ trong [Kinh Thi], không thèm để ý tới.

“Mau chuẩn bị giấy tờ khế đất của tất cả các cửa hàng để làm đồ cưới cho cô nương. Son phấn thượng hạng, chu sai thúy bảo nào cũng phải mua tất, nói với Nhị chưởng quỹ là chọn mẫu mã mới nhất của năm nay đấy nhé. Nhà ông ấy sản xuất ngọc, kiểu đáng cũng tinh tế, cả hàng trong kinh cũng không bằng. Khà khà, đúng rồi, mua một trăm vò Trần Thiêu tửu đã trên hai mươi năm tuổi về đây. Ngày thành thân gặp thông gia, chúng ta mang đãi hàng xóm láng giềng cho náo nhiệt!” Miệng của Hữu Tô lão gia không ngơi nghỉ.

“Cha, con không lấy chồng đâu!” Ngũ cô nương nước mắt lưng tròng.

Hữu Tô lão gia lấy tay áo thêu tơ vàng chậm lên đôi mắt đẫm lệ của con gái, cười phì, “Sao thích khóc thế? Phu quân của cô còn chưa khóc mà. Nhìn bộ dáng của cô khi thành người nè, bà cô nhỏ của ta ơi!”

Thu Lê càng khóc to hơn, “Ta không lấy hắn đâu, ta muốn về nhà, méc mẹ ông bắt nạt ta!”

Hữu Tô lão gia nhếch mép nói: “Được, cứ về đi, đằng nào thì nếu cô không lấy chồng thì xác định đời này không gả cho ai được nữa, thôi thì cứ cả ngày ngồi thêu uyên ương chơi đùa, cây lá liền cành cho rồi. Hồi trước nhà Hồ lang Sơn quân cũng có một cô nương mắc bệnh mê trai, lúc phát xuân kì không gả được nên cuối cùng có ngày phát điên, tự đấm vào bụng mình đến chết rồi đó!”

Tiếng thút thít của Thu Lê nín bặt.

“Muội muội à, ngay cả Hề Sơn quân xấu như quỷ nghèo muốn chết ở đỉnh núi cách vách cũng có thể tìm được chồng thì muội lo lắng khổ sở làm gì?” Một mùi hương theo gió bay tới, Đại cô nương liếc mắt đưa tình, kéo tay muội muội cười khanh khách, “Nếu mê trai thế thì ta chia cho muội vài gã đàn ông của ta là được rồi. Chúng ta là yêu quái, không cần quan tâm tới tam trinh cửu liệt này nọ!”

Hữu Tô lão gia ngoài cười nhưng trong không cười, nhéo tai Đại cô nương nói: “Tiểu nha đầu, đừng gây sóng gió nữa, ta tát cô một phát bay thẳng về núi Linh Bảo bây giờ. Nhị cô nương, Tam cô nương, Tứ cô nương đều đang thu dọn hành lý, đã diễn xong rồi thì cô cũng mau lên đường đi.”

Sau đó, hắn ghé tới nói nhỏ vào tai Đại cô nương bằng giọng cay nghiệt: “Nếu con bé không gả được, ta sống không tốt thì ông đây cũng khiến cô chẳng được yên ổn!”

Đại cô nương vừa ôm Hữu Tô lão gia, thấp giọng cười ma mị: “Ngươi lừa ta khổ sở như vậy, ta sẽ để ngươi được thuận buồm xuôi gió ư? Trên đời này làm gì có chuyện dễ dàng như thế? Trước đây ngươi nói mình yêu thầm Tam nương, nên mới không kết hôn, ta tin ngươi, nhưng nào ngờ ngươi lại thích một gã đàn ông, quyết định trở thành nữ yêu. Mặt bổn cô nương bị ngươi vả đến mức không ngẩng lên được, đám lẳng lơ không lương tâm ở những đỉnh núi khác đều lấy ta làm chuyện cười. Nếu ta không trả thù ngươi thì thành ra bổn cô nương đây hiền lành dễ bắt nạt vậy sao?”

Đại cô nương Vân Anh thời con gái năm đó từng thích một tiểu tử thối vừa xấu vừa nghèo, tiểu tử thối đó không chịu cưới nên nàng mới đành từ bỏ cưới người khác. Rồi đến một ngày, Đại cô nương xuống trần gian tìm tình nhân làm vui thì nghe một người bạn hả hê khi thấy cảnh người gặp họa kể lại, tên tiểu tử thối kia lại bất chấp tất cả, xuất giá làm con gái. Chị ta nổi trận lôi đình, tát một phát chết tươi gã tình nhân trông giống tên tiểu tử thối kia mấy phần. Lúc đó phu quân vừa tìm tới, thấy quần áo chị ta không chỉnh tề nên cãi vả đánh nhau với chị, Đại cô nương nhất thời tức giận rồi nuốt sống phu quân. Tỷ muội trong nhà hỏi có chuyện gì, chị cả giận lấp l**m, bảo phu quân ăn tình nhân, chị nhất thời tức giận nên cũng ăn luôn ổng. Có ai ngờ các muội muội bữa giờ đã thấy khó chịu phu quân ở nhà hay quản lý này nọ, học theo, rồi chuyện hoang đường cứ thế tiếp diễn.

Sau đó, lại không ai thèm lấy tiểu muội, khiến núi Linh Bảo chịu tiếng xấu, cuộc đời chị bi thảm như vậy cũng do tên tiểu tử thối trước mặt.

Hận ý của Đại cô nương ngút trời, Hữu Tô lão gia không bình tĩnh hất tay áo đẩy chị xuống đất, hớp một ngụm rượu, dịu dàng hỏi Ngũ cô nương: “Ta nhận ân tình của mẹ cô, đồng ý với bà ta giúp cô tìm một phu quân. Nếu cô đã kiên quyết như vậy, không chịu gả cho hắn thì gả cho ta cũng được.”

Ngũ cô nương rưng rưng cúi đầu lạy cha mẹ, “Cha, ta gả.”

Thà làm một cái đệm cũng còn hơn chết nghèo, chết đói, chết nhục cơ mà.

***

Hai mươi mốt tháng chạp.

Vào ngày Tứ công tử và Ngũ cô nương thành thân, cả thành Thất thương cực kì náo nhiệt. Trong cung Trịnh vương phái một nội sử đứng ngoài phủ Hữu Tô tuyên đọc lời chào thân mật của Trịnh vương, biểu đạt tâm nguyện mong hai họ giao hảo trọn đời.

Ngày đông mọi vật tiêu điều, vạn vật dưỡng sinh, không nên di chuyển, nhà dân thường cũng không chọn ngày này để kết hôn, huống chi là công hầu. Thế nhưng Trịnh vương điện hạ lại không để ý tới chuyện này.

Quan nội thị mặc áo lam thổi kèn kéo đàn suốt dọc đường rước dâu rất hào hùng, tư thế diễn tấu lại không có vẻ vui mừng như bài ‘Đào yêu’ mà lại giống đang tấu hành khúc thì đúng hơn. Quý Duệ nhìn tân nương như quả cầu màu đỏ múp míp được hỉ nương vất vả đầu mướt mồ hôi cõng vào kiệu hoa, nhìn thấy Trịnh dân tò mò săm soi mái tóc đỏ của mình, ban đầu chỉ khẽ mỉm cười, càng cười càng thấy buồn cười, to giọng cười ha hả. Hắn cất tiếng đầy khí phách: “Hôm nay là ngày vui của bổn công tử, hễ là dân của Trịnh quốc thì đều có thể tới ngoài phủ ta để lĩnh thưởng! Uống rượu ăn thịt, cái gì ta có, ắt sẽ chia cho!”

Trịnh dân hò reo, vui mừng khôn xiết, lòng lại thầm nghĩ, cái dòng man di, thứ đồ con nuôi, th* t*c hèn mọn, chẳng hề ra dáng! Nào giống như Hạnh – con vương phi, nhất cử nhất động đều cao quý uy nghi, tướng vua trời sinh.

Ngũ cô nương nơm nớp chờ tiểu oan gia vén khăn, trán rịn mồ hôi thật dày. Ai ngờ thấy giày lông xanh tới gần, không vén khăn voan mà lại cởi thẳng y phục của nàng.

Thu Lê càng thêm kinh ngạc, run rẩy nhưng không dám phản kháng, nàng đang nhớ tới cảnh tượng khi bị con người vây bắt hồi bé. Bọn họ túm tai túm lông nàng, thô lỗ trói vòng này tới vòng khác, cuối cùng cười gằn ném nàng vào phòng chứa củi.

Tứ công tử nhìn toàn thân mũm mĩm của cô vợ mới cưới, mặt không thay đổi vẫn động chạm trên người nàng. Dù Thu Lê béo nhưng da thịt mịm màng, bị cào một phát lập tức hiện vết trầy rất tội.

Nàng cứ không ngừng tun rẩy, cắn răng, không lên tiếng.

Lòng bàn tay đặt trên vai tân nương bỗng ướt hơn, Tứ công tử ngẩn người, dừng lại động tác.

Nàng khóc.

Hắn mở khăn voan ra.

Thu Lê run rẩy kiềm chế cơn thút thít, vừa sợ vừa hận nhìn hắn.

Tứ công tử nhìn mê man vào đôi mắt kia, cứ như từng gặp ở đâu rồi. Hắn luống cuống lấy khăn hỉ lau nước mắt tân nương, thấp giọng uể oải nói ‘Ta xin lỗi’.

Thu Lê vẫn sợ như trước, trong lòng nàng rất mâu thuẫn. Tuy nàng không muốn gả cho tên tóc đỏ này, thế nhưng nếu không dựa vào khối tài sản dụ dỗ kia thì không có yêu quái hay con người nào chịu cưới nàng. Nếu không ai cưới, nhỡ một ngày nào đó giống cô nương ở núi Hồ Lang, mê trai mà đến xuân kì không phát ra tinh lực được, tự đấm chết mình thì thảm quá. Thu Lê quyết định hạ quyết tâm, nghĩ chẳng qua tên tóc đỏ này không muốn nhìn mặt mình thôi, vì thế lại tự trùm khăn, nhắm chặt mắt, răng đánh lập cập vào nhau, “Ta… sẽ làm một thê tử tốt, chàng đừng làm thịt ta.”

Thu Lê nhắm mắt, bàn tay trần siết chặt thành nắm tay. Hồi sau, Tứ công tử phá ra cười to đến rung đất động trời.

Quan hệ giữa Tứ công tử và Ngũ cô nương hòa thuận đến bất ngờ, hắn mang cô dâu tới gặp Trịnh vương, Trinh vương hơi ngạc nhiên nhìn thân thể mướt mát của con dâu, các vị công tử bên cạnh cảm thấy may mắn quá, cứ cười trộm không ngừng.

Thu Lê cúi thấp đầu, Tứ công tử cũng cúi đầu thấp, Trịnh vương khẽ phất tay để bọn họ rời đi.

Trên đường thì gặp phải công tử Hạnh tới chậm. Hạnh châm chọc: “Tứ ca, tân hôn vui vẻ. Tứ tẩu không chỉ có đồ cưới bao la mà thân hình cũng bao la lắm, nếu không phải mới cưới thì ta còn tưởng Tứ tẩu có hỉ đấy!”

Thu Lê vừa giận vừa ngượng, ngẩng đầu nhìn Hạnh, chỉ một cái liếc qua mà Hạnh như vừa gặp thấy gì, cả người cảm thấy không được tự nhiên.

Thu Lê ngửi thấy một mùi hương nhẹ nhàng trong không khí, nàng hít hít, hỏi Hạnh: “Ngươi mang hương gì thế?”

***

Quý Duệ phụng chỉ đi luyện binh, ba ngàn con ngựa biên giới cũng đi cùng theo đồ cưới của Ngũ cô nương, được xung hết vào doanh kị binh. Các vị công tử đều thèm nhỏ dãi, nhưng nghĩ tới dung mạo của Ngũ cô nương thì mọi bất bình đều lập tức như rắm đã thoát khỏi mông, sau khi mùi thối bay đi thì cũng chẳng còn gì nữa hết.

Bọn họ đều mơ mộng hão huyền, nếu có thể không cưới cô nương nhà Hữu Tô mà có thể nắm binh đoàn tuấn mã của nhà này thì tốt biết bao.

Hạnh càng không vừa mắt Tứ huynh, trong lòng như có một con rắn độc càng lúc càng lớn dần, thường tự cắn chính mình. Tất cả các công tử đều không xem người con nuôi Quý Duệ ra gì, nhưng cũng vì bọn họ không biết một sự thật mà chỉ có y mới biết. Nếu phụ vương đang bày ra một ván cờ lớn thì cục diện sẽ hoàn toàn khác với những gì mọi người đang nghĩ tới. Chỉ là tuy mình đang chém giết với các anh em cùng cha khác mẹ là thế, nhưng đến một ngày phụ vương chơi chán rồi, muốn lật bàn, thậm chí không muốn tự làm thì cũng là chuyện như trở bàn tay. Bởi vì y biết rõ một chuyện hơn bất kì ai.

Biểu hiện của Tứ công tử gần đây rất xuất sắc, Hạnh và Đại công tử vẫn luôn bàn luận về việc này, nay đã không thể nắm chắc được nữa, nên đề phòng Lục công tử Giới hay Tứ công tử Quý Duệ đây, hay hai người Giới và Quý Duệ là cùng một phe phái?

Mẹ của Lục công tử, trắc phi Vương thị nay cũng rất nóng ruột. Bà ta và Trịnh vương phi đã đấu cả một đời, cuối cùng khiến Vương phi tức chết, được sủng ái, thì lại gặp một đám tiểu hồ ly tinh thân phận cao quý, bản thân từ từ thất sủng, dù sinh được con trai Giới, nhưng dưới hào quang của Hạnh, Giới u ám chẳng khiến người ta chú ý tới. Bà đã suy đi nghĩ lại, bảo Giới đi lôi kéo Quý Duệ. Nào ngờ nuôi hổ trong nhà, Quý Duệ trước đây tầm thường mà nay bỗng cường thế như vậy.

Con trai của người phụ nữ đó, nhất định không để con trai của người phụ nữ đó đoạt được vương vị. Hạnh không được phép đứng ở đây, ít nhất cũng không được lấy thân phận Đích tử đứng ở Trịnh quốc chứ. Rốt cuộc năm đó đã sai ở đâu?

Dù trong lòng Vương trắc phi đầy ngờ vực, nhưng lại bị nỗi hận thù che lấp, nỗi hận khiến bà ta nghĩ ra được một độc kế nham hiểm.

Lại nói tới Lục công tử Giới luôn rất hòa thuận với Tứ công tử, hai người cứ như là anh em ruột vậy. Giới từng cười nói với Tứ công tử: “Ca ca có mái tóc đỏ rực, trông thật anh vĩ bất phàm, có lẽ cha mẹ ruột của ca ca cũng là một nhân vật anh hùng tuấn mỹ bất phàm lắm, chỉ tiếc đã qua đời sớm mà thôi.”

Tứ công tử buồn bã thở dài: “Người đã chết không còn thân xác, ai nào biết được. Thật ra ta lại nghe kể rằng mẹ ruột bị người ta hại chết. Có người lén hạ độc bà, khi chết thất khiếu chảy máu rất thảm thương. Tiếc là lúc đó ta còn nhỏ quá, không nhớ rõ nữa.”

Vẻ mặt của Giới trở nên rất quái dị, hắn gượng cười nói: “Thế sự vô thường, nên nghĩ thoáng hơn. Ca ca nên chấp nhận số phận, thân là con nuôi Trịnh vương, chẳng phải nay được sống trong vinh hoa phú quý, an nhàn sung sướng rồi còn gì?”

Lúc ấy Tứ công tử cũng cười theo ha hả, “Lục đệ nói đúng lắm, tự ta cũng cảm thấy rất mừng trước vận mệnh này.”

Nay Giới nghe mẫu thân thì thầm độc kế bên tai, nhíu mày nói: “Xưa nay Tứ ca luôn cẩu thả, có điều không phải là loại người ngu ngốc đâu. Chúng ta đặt bẫy hắn thế, không chắc hắn sẽ không nhận ra.”

Vương trắc phi vỗ nhẹ lên tay con, thầm hả hê, “Quý Duệ không cam tâm, dù có nhìn ra thì hắn cũng sẽ nghe theo.”

***

Quý Duệ trước nay luôn có tài năng quân sự. Hắn và Mục vương Thế tử Thành Giác đều có tài tướng soái trời sinh. Năm mười ba tuổi, Thành Giác đã bày cơ long trận ở cung Chiêu vương, lúc ấy không một đại tướng nào trong triều có thể phá được. Vì trận tướng đó thay đổi quá kì lạ và rất hung hiểm. Đại quân mang hình rồng, cổ gáy xương cốt và các đại mạch đều đã được kiềm chế, chỉ hơi nhúc nhích là xung quanh bị chặn ngay, rơi vào tử cạnh. Năm đó Quý Duệ theo phụ vương vào kinh ra mắt đã gặp trận này, hắn dùng hai tiểu quân đột phá khỏi vị trí mắt rồng, liên tiếp tập kích quân địch ở gáy và miệng rồng, hễ đầu rồng rục rịch thì cắn trả, ăn sạch từng tấc từng tấc gân mạch để phân tán quân địch, tới khi đuôi rồng phất lên thì quân địch cũng tan tác.

Năm đó Quý Duệ cũng chỉ là một thiếu niên mới tròn mười sáu tuổi mà thôi. Tiếc là hào quang của Mục vương thế tử năm đó sáng chói, nào có ai thèm chú ý tới đứa con nuôi của tôn thất? Nếu như không gặp vị vua tốt, cả đời Quý Duệ dẫu có tài năng tới đâu thì cũng chỉ là tướng quân của một nước Thiên thừa mà thôi. (*Nói cách khác, là Tướng quân của một nước chư hầu nhỏ bé mà thôi.)

(*) Nguyên gốc: Nước thiên thừa, thừa là xe, một ‘thừa’ cần 4 binh mã kéo, trên xe có 3 giáp sĩ, dưới xe có 71 lính bộ và 25 nhân viên hậu cần, tổng cộng 100 người. Các nước chư hầu tính xem có bao nhiêu ‘thừa’ (binh xe) để phân cao thấp. Các nước chư hầu nhỏ thì tự xưng là ‘Thiên thừa’, lớn là ‘Vạn thừa’.

Trong vòng ba tháng ngắn ngủi, Quý Duệ đã huấn luyện doanh cung kỵ binh thành một đội ngũ có khả năng tác chiến. Tuấn mã đều có thể chạy ngàn dặm, tướng sĩ đều giỏi cưỡi ngựa, dũng mãnh thiện chiến, phân nửa trong số đó là do Quý Duệ tự tuyển chọn, được hắn bồi dưỡng mà ra.

Trịnh vương rất hài lòng, càng tán thưởng Quý Duệ. Ông ta định tiếp tục mở rộng kỵ binh doanh, nhưng tạm thời không có ý định báo triều đình.

Các vị công tử đều nhận thấy tình hình ngày càng không ổn, bọn họ đang phỏng đoán dụng ý tại sao Trịnh vương lại hậu đãi lão Tứ như thế. Đại công tử Bá Thanh nói với Hạnh một kế. Ngay trên triều, Hạnh lên tiếng muốn cùng phân ưu với Tứ huynh, vẻ mặt Tứ công tử sa sầm liếc nhìn Hạnh, Trịnh vương cười, hạ chỉ để Hạnh hỗ trợ Quý Duệ xây quân.

Hạnh và Bá Thanh tạm yên tâm, nhưng Nhị công tử không đồng ý với ý kiến của họ, hắn cho rằng Trịnh vương đang muốn để Hạnh biết khó mà lui. Có khi ông ta còn xem Hạnh là một đứa trẻ không hiểu chuyện, lại thêm Trịnh vương cứ mãi không lập Thế tử, lại không giao trọng trách gì cho Hạnh thì cũng có thể đoán được ít nhiều.

Gần đây Lục công tử ngày càng vênh váo, càng lúc càng năng ra vào phủ Tứ công tử hơn, quan hệ với Tứ công tử cũng khăng khít hơn trước. Vì quan hệ của hai người mẹ mà Hạnh và Lục công tử luôn coi nhau như kẻ thù, trong buổi gia yến, Hạnh thấy Tứ công tử và Lục công tử ngồi cùng nhau, chưa kịp trừng Lục công tử thì đã hừ lạnh Tứ công tử một tiếng tỏ ý coi thường.

Đại công tử không rõ mục đích thù địch của Hạnh đối với Quý Duệ. Quý Duệ là con nuôi, vô duyên với quân vị, Hạnh càng thù ghét Quý Duệ thì chẳng khác đang dâng quân quyền cho người có quyền kế thừa là Lục công tử, đây là một hành động không hề sáng suốt.

Thế nhưng Hạnh lại cứ làm như thế. Hắn không coi Lục công tử ra gì, lại cùng Quý Duệ như nước với lửa. Hạnh đi trong quân, lúc nào cũng đối địch với Quý Duệ, trước mặt Trịnh vương đã mách tội Quý Duệ không biết bao nhiêu lần. Đã thế muốn duy trì quân đội cũng rất khó khăn, lần nào báo Đại công tử để đòi lương thực thì đều cãi cọ. Trong học đường, Thái phó, Nhị công tử cũng kiếm đủ trò để làm khó Tứ công tử, trước sau Quý Duệ đều là địch, xử lý những liên tục những chuyện nhỏ nhặt này đúng là khiêu chiến chỉ số thông minh có giới hạn của hắn.

***

Hiện, đã là tháng ba âm lịch của Tề Minh năm thứ mười một.

Kẻ an nhàn tham đọc sách bậc nhất của Đại Chiêu nay gần như biến thành thư kí riêng kiêm vũ khí bí mật của Tứ công tử. Thế nhưng chàng chỉ xử lý những chuyện vụn vặt mà thôi, nhất định không dính chính sự, không viết tấu chương.

Ở phía bên kia của thành Thất thương, Hữu Tô lão gia vừa hưởng thụ được tỳ nữ xoa bóp tay, vừa đưa mắt nhìn ra xa, cười lạnh lùng.

“Phụ thân, tướng công mua cho ta một xâu trân châu, ông xem nè.” Sắc mặt Thu Lê hồng hào, ngón tay múp míp xoa xoa từng hạt trân châu tròn nhẵn trên cổ.

Hữu Tô lão gia ừ một tiếng, khóe mắt hiện ý cười, nói: “Vào nhà kho lấy ba vạn kim đưa Ngũ cô nương.

“Phụ thân, sao ông biết…” Thu Lê vốn ngại chưa tiện mở miệng xin tiền mua lương thảo, cứ ấp a ấp úng cả buổi trời.

“Con gái đúng là khôn nhà dại chợ.” Hữu Tô lão gia lườm nàng rồi tiếp, “Không phụ sự nhờ vả của mẹ cô, ta phải thu xếp ổn thỏa nửa đời sau của cô cho ổn thỏa rồi mới rời đi được.”

“Mẹ ta có biết ta được gả cho ai không?” Thu Lê xấu hổ cúi thấp đầu.

“Biết chứ. Ta đã truyền tin về, báo cho bà ấy rằng cô được gả cho ân nhân cứu mạng năm đó. Mẹ cô cũng đỡ buồn bã, bảo ta có chuyện gì thì đập tiền vào.” Hữu Tô lão gia nhìn ánh chiều tà, khóe mắt đang thoải mái bỗng lập tức tiu nghỉu đi.

“Nói xạo!” Ngũ cô nương rầu rĩ, “Rõ ràng chàng là kẻ đã hại ta, tuy rằng chàng không biết ta là tiểu hồ ly năm đó. Nhưng nay chàng đối xử tốt với ta như thế, ta lại không đành lòng kể lại chuyện trước đây cứ luôn canh cánh.”

Hữu Tô lão gia cười dịu dàng, lại như có ý đồ, hỏi một câu khác, “Cô có biết, gần đây tướng công cô đang gặp chút phiền phức?”

Ngũ cô nương lắc đầu, nuốt nước bọt cái ực rồi tỏ ra sốt ruột hỏi, “Chuyện gì? Ngài biết bấm độn là thế, giúp con gái xem thử thế nào đi.”

Hữu Tô lão gia rũ mắt nói: “Trong phủ Tứ công tử đang giáu một mầm họa, ngoài phủ cũng có một cái.”

“Ta nên làm thế nào?”

Hữu Tô thổi vào lòng bàn tay, trong lòng tay trống không lập tức xuất hiện một miếng ngọc điêu màu trắng, hắn đưa cho Ngũ cô nương nói: “Mầm họa trong phủ dễ đối phó, mầm họa ngoài phủ cần trong phủ áp chế. Tứ công tử cũng có một thứ giống thế này, cô mang cái này đi đổi với cái Tứ công tử đang có, sau đó giao cho mầm họa trong phủ.”

“Mầm họa? A, ý ngài là… chỉ…” Ngũ cô nương nhìn Hữu Tô lão gia mà không thể ngờ được, nàng lắp bắp, “Nhưng chàng ta là, là… Nếu đã chưa chết, vì sao ngài lại muốn đẩy chàng ta vào chỗ chết?”

Hữu Tô lão gia cười nói, “Có vài người, ta cho chàng đường sống thì chàng lại không muốn đi. Người như thế thì phải chết rồi mới có thể sống được. Trước đây bảo sống oan ức nhục nhã thì đau khổ lắm, chết đi để được giải thoát, muốn sảng khoái thì ta để chàng được nếm thử mùi vị sảng khoái đó một lần. Nhưng mà, cô biết đó, cha cô tính tình cổ quái, tuy hiền lành nhưng không thể để cho người ta được sảng khoái đâu, nhất là cái sự sảng khoái đó được đặt trên sự không thoải mái của ta. Thế nên, để chàng được sảng khoái như vậy không phải ý định ban đầu của ta.”

***

Trong Trịnh vương cung có một cái viện bị niêm phong, nghe đâu là đó cái viện đầu tiên mà Trịnh vương phi đã ở sau khi vào cung, một nơi không may mắn lắm. Con đầu Trịnh vương phi sinh khó, vừa ra đời đã là thai chết lưu, sau đó cái viện ấy bị niêm phong, bình thường chỉ có một lão nội thị mù lo quét tước dọn dẹp.

Sau khi Trịnh vương phi chết đi, Vương trắc phi đi dạo trong vườn hoa, ngang qua chốn này thì gặp phải sát khí, sinh bệnh, bã thuốc thành núi mà vẫn không khỏi, sau đó tìm tới Vu tộc, trong đám đông nhìn thấy Tứ công tử, bảo đứa trẻ này có lệ khí, bản tính ác độc vẩy chén máu tim của nó khắp viện, dùng độc trị độc thì bệnh của Trắc phi sẽ khỏi ngay.

Tứ công tử tuy là con nuôi nhưng tính tình ngoan cường, hắn chạy ra khỏi cung, không biết tới đâu. Được mấy ngày thì tự quay về, quỳ trước mặt Trịnh vương. Mặt đứa bé bẩn thỉu, Trịnh vương lạnh lùng nhìn hắn, Vu nhân phụng chỉ lấy một con dao nhỏ xinh xắn lạnh lẽo ra, vỗ nhẹ lên lồng ngực bé xíu ấm áp của Tứ công tử, như thể đang đánh giá nên xuống tay vào chỗ nào. Đứa bé đáng thương còn nắm chặt một cái gì đó trong tay thì lưỡi dao đã đâm xuống. Thằng bé nhìn ngực đầy máu, không kêu cha, không gọi mẹ, chỉ mực cắn chặt răng, rốt cuộc lại rớt nước mắt. Nước mắt hòa với máu nóng hôi hổi, tích được một chén ngọc lớn, lòng chén trong suốt óng ánh, nội thị giơ lên thật cao, Tứ công tử ngẩng đầu nhìn lên, xuyên qua đó có thể nhìn thấy chất lỏng đỏ tươi sánh đặc đến mức không thể đung đưa.

Một chén máu đó được vẩy đến từng góc trong viện. Hắc y vu tộc lầm bầm: “Lấy nạn giết nạn, vĩnh viễn không họa. Phụng thiên thừa vận, cầu Vương phi nương nương của ta được vĩnh an. Vương phi nương nương của ta dưới lòng đất được vĩnh an, Trắc phi nương nương vĩnh hưởng thọ niên. Thứ độc vật bẩn thỉu này, cần một chén máu dơ, tạt vào cắt đứt đường sống, dứt lối đường chết.”

Cắt đứt đường sống, không lối đường chết.

Tứ công tử giằng lấy cái chén trống không, nhìn giọt máu cuối cùng trong chén, thảm thiết kêu lên, ‘Đau quá! Phụ thân, mẫu thân, con đau quá’, rồi mất đi tri giác.

Từ đó về sau, Tứ công tử luôn cần cù hiếu học không đọc sách nữa, hắn cũng giống Phù Tô, không màng chính sự, không hiểu tấu chương. Nếu nói ba ngàn con ngựa kia như nấm khô gặp đất ẩm, đã tưng bừng mở đầu sinh mệnh của Quý Duệ thì Thu Lê càng giống vầng trăng sáng mỗi khi uống rượu trong cô độc, thuần khiết mà an tường, đại biểu sự bầu bạn đến vô tận.

Cho dù người ngoài và các anh em châm chọc thế nào, Tứ công tử vẫn đối xử với Thu Lê rất tốt.

Thu Lê lại rất ý thức nguy cơ, thần kinh của nàng vốn thô như chồng mình, nhưng chỉ một câu nói của Hữu Tô lão gia đã khiến nàng ưu sầu cả ngày. Trước đây một ngày ăn được tám chén cơm, khuya uống được một chén cháo tổ yến thì nay lại buồn bã không vui, chỉ bảy chén là đủ rồi, cháo tổ yến không cần bỏ táo đỏ, khiến Tứ công tử có sức ăn tương tự phải giật mình lo lắng.

Hắn sờ đầu Thu Lê, không thấy nóng lên, nhưng vẻ mặt đó lại như muốn nói rằng ông bố vợ luôn vui vẻ vừa xuống mồ. Được một lát sau, Thu Lê lấy xấp ngân phiếu ra, đưa cho Tứ công tử, “Tướng công, ta biết gần đây chàng luôn ưu sầu, phụ thân bảo ta đưa chàng chút tiền để chi tiêu.”

Tứ công tử tưởng mình đã đoán được tinh hoa, lắc lắc đầu, đẩy ngân phiếu lại, ồm ồm nói: “Thứ này cũng không giúp được việc ta, đàn bà con gái suốt ngày toàn nghĩ cái gì không. Nàng và ta đã là vợ chồng, ta vĩnh viễn không bỏ nàng, cho dù nàng nghèo khổ hay giàu có.”

Hắn càng nói, đầu Thu Lê càng cúi gằm.

Tấm lòng của quả lê béo, tên tóc đỏ ngươi không hiểu gì hết.

Lúc Thu Lê lặng lẽ lén đưa ngọc bài trộm được cho Phù Tô, biểu cảm mặt Phù Tô vẫn không chút thay đổi, con ngươi đen láy đưa mắt nhìn Thu Lê.

Thu Lê lại lặng lẽ như bông mai đầu cành rơi xuống đụn tuyết vào năm mới, rời đi như du hồn.

***

Nay đã sang tháng ba, khắp chốn đều mang màu vàng ươm xanh biếc của hoa cải dầu.

Lúc quy mô của doanh kỵ binh đã lớn rồi thì Trịnh vương lại xin bệ hạ ban chỉ, lập Hạnh làm Thế tử, chức tổng ty quản lý binh mã thì giao cho Giới. Ngoại trừ ba ngàn kỵ binh, Quý Duệ không có gì hết.

Lại một lần nữa, mọi người đều không hiểu nổi Trịnh vương điện hạ. Hạnh làm Thế tử mà cũng chẳng có vẻ sướng vui, Giới lại không mang dáng vẻ sa sút của một kẻ thất bại, trái lại càng thêm ngông cuồng.

Hữu Tô lão gia lại mua thêm bảy ngàn con ngựa, sung vào doanh kỵ binh. Ai cũng cười, bảo lão này điên rồi, tiền nhiều không có chỗ xài, có cống mười ngàn con ngựa thì cũng không mua được ngôi Thế tử cho con rể.

Quý Duệ không có binh dùng, Giới luôn thoái thác không chịu thả người. Hắn không còn cách nào khác, thỉnh chỉ xin Trịnh vương thả binh thì lại bị Trịnh vương hung dữ răn dạy một trận, mất hết cả thể diện. Triều thần hiểu ra, Quý Duệ bị ruồng rẫy.

Từ hồi mười lăm tuổi, Quý Duệ đã giúp Trịnh vương luyện binh, ba quân ba mươi vạn binh sĩ ở Trịnh Quốc, đều tinh nhuệ, ngang ngửa với quân của Mục, Sở. Trong ba mươi danh tướng cấp cao thì có hai mươi lăm người đều là tướng quân trẻ tuổi, đa số đều nhờ Quý Duệ thỉnh chỉ đề bạt.

Phe Quý Duệ bất bình, muốn quay về với chủ cũ, rời bỏ hàng ngũ hiện tại. Quý Duệ ngăn cản, hắn chẳng qua là thích luyện binh, hi vọng có ngày được phân cao thấp với Mục vương thế tử Thành Giác. Dù sao thì về học thức, chính sự hay tấu chương, không phải muốn học là học được, không phải có giảng là hiểu ra. Nhưng hiện nay, chỉ một nguyện vọng yếu ớt nhỏ nhoi vậy mà cũng như quả hạt dẻ bỏng tay, khó thể nắm bắt.

Phúc Thái phó ra đề, luận Trịnh và Chiêu.

Trịnh là chữ Trịnh trong Trịnh quốc, Chiêu chỉ chữ Chiêu trong Đại Chiêu.

Tứ công tử cười khổ, hắn hoàn toàn không hiểu đề này, đi hỏi Phù Tô: “Ngươi có biết thế nào là Luận Trịnh và Chiêu?”

Phù Tô nhìn hắn, không kịp trả lời. Vì Tứ công tử đã say túy lúy rồi.

Môt kẻ điên vì võ nay lại không còn hứng thú với võ với binh, hắn bắt đầu bình phẩm các rượu nổi tiếng trong thiên hạ, làm một kẻ tiêu dao say khướt trên đời.

Quả lê béo Thu Lê như chắc mẩm không thể cãi lại chân lý ngàn năm lấy chồng theo chồng lấy chó theo chó, thế là cũng học theo phu quân uống rượu tới mức như quả lê ngâm trong thùng rượu, da thịt đỏ ửng cả lên.

Phù Tô không uống, chàng ngửi thấy hơi thở khác biệt. Nguy hiểm lại tới gần cuộc sống an ổn của chàng thêm một bước nữa. Chàng trốn dưới mái hiên của một công tử bất lực để làm chim tước, làm phụ tá, nhưng khi Thái phó phiền phức chỉ muốn nộp tấu chương không bàn phong hoa tuyết nguyệt thì cũng là lúc ép con chim tước không còn cách nào cầm bút để kiếm ăn nữa. Cha của công tử bất lực cũng giống như cha của chim tước năm ngoái, hung hãn dị thường, mưu đồ tận diệt tới hang ổ an bình của con trai, dạy dỗ con chim non, đứa con mất mẹ không còn chốn nương thân.

***

Ngày nọ, Lục công tử Thành Giới vào triều, tố cáo anh nuôi Quý Duệ có ý đồ mưu phản, giết em đoạt vị, tội ác khó tha. Thành Hạnh ở bên cạnh nghe mà run rẩy. Quý Duệ ngà ngà say, đứng ngay giữa triều, híp mắt dưỡng thần, đần đần độn độn, không hề nghe rõ lời Thành Giới nói.

Trịnh vương hỏi chứng cớ đâu, Giới thưa Quý Duệ âm thầm trưng binh, ở ngoại thành cách Thất thương hai mươi dặm, có một vạn kị binh, đã vũ trang sẵn sàng, cả vạn người làm chứng; Quý Duệ say xỉn thất đức, từng ở trong nhà ác độc mà rằng, sớm muộn gì cũng giết tên nhãi ranh Thành Hạnh, giành lấy tất cả, chuyện này có nội quan tì nữ làm chứng ; Còn nữa, trong nhà Quý Duệ có giấu một kẻ từng bị ôn dịch, Quý Duệ ngoài mặt cứu chữa, bên trong thầm mượn độc ngâm độc, có lòng hại người, dân Trịnh đều hay.

Rành rành muốn gán tội cho người.

Giới nói tới mức mưa xuân tứ tung, Trịnh vương nghe xong, vẻ mặt khẽ biến, tra hỏi Quý Duệ: “Ngươi có gì giải thích?”

Quý Duệ không đáp, ngẩng đầu đưa mắt nhìn Thế tử Hạnh đang thẳng cổ ngẩng cao. Hắn cười hỏi: “Thần hỏi Thế tử Hạnh, người có tin chăng?”

Hạnh đưa mắt về phía Quý Duệ, con ngươi trong suốt lóe lên hận ý, lập tức quỳ xuống, thành khẩn thưa với Trịnh vương rằng: “Nhi thần không tin Tứ ca lại đối với ta như vậy.”

Giới cười lạnh lùng, mắt tràn ngập mong chờ nhìn Trịnh vương, Trịnh vương lại bình thản phất tay: “Không thể tin được. Nếu nó muốn đoạt vị, sao chỉ giết mỗi Hạnh? Lũ các ngươi có tài đức gì mà sống nổi? Chỉ là thằng con nuôi, không cần ôm lòng này.”

Chỉ là thằng con nuôi, không cần ôm lòng này.

Trịnh vương ở cao cao tạo thượng, trào phúng nhìn Quý Duệ, gân xanh trên trán Quý Duệ nổi lên hết, dưới lớp vải sa, siết chặt tay.

Đại công tử Bá Thanh lại bước ra khỏi hàng nói: “Ai mà biết hắn có tâm này hay không? Cũng là nhờ say rượu, mới nói lời thật lòng, khiến người nghe kinh hoảng! Ta có từng nghe Quý Duệ âm thầm trưng binh. Nếu cần luyện binh, cớ sao không thông qua Ngũ đệ và Phụ vương? Vương pháp Đại Chiêu, tự mình tụ binh, giết treo giữa chợ!”

Cớ sao không thông qua Ngũ đệ và Phụ vương? Răng môi Quý Duệ khô khốc vô lực, cười nhạt, lại cúi đầu. Hắn ở nước này, dù cơm áo không lo, nhưng lại mất hết tôn nghiêm.

Phụ, huynh, đệ, ai là người thân? Có liên quan gì tới hắn đâu?

Trịnh vương lại âm trầm nhìn Quý Duệ, lãnh đạm nói: “Muốn giết thì cần gì phải gấp? Nếu thật có mưu phản, thì vĩnh viễn không muộn.”

Triều thần xôn xao. Các vị công tử nhìn Quý Duệ bằng ánh mắt dò xét, vừa mang vẻ khinh bỉ vừa như chờ kịch hay.

Quý Duệ quỳ xuống dập đầu, dâng ngọc phù của kỵ binh đoàn ra.

Hắn cảm thấy miếng thịt ở lồng ngực lại chảy máu, nhưng vẫn còn đập bình bịch, rất đau mà lại chẳng thể khóc được.

Đến rượu cũng không thể cứu vãn nổi băng giá khắp người, đến khi Thu Lê tìm được hắn thì cả vườn hoa giấy đã bị phá nát không còn một gốc.

Số hoa giấy đó chôn vùi hắn, Quý Duệ cúi đầu, bộ dáng tự ti như Thu Lê từng vô số lần nhìn mình dưới nước.

“Công tử?” Thu Lê khe khẽ gọi, vì tìm hắn mà cứ chạy khắp phủ như con thoi, đến khi đầu đầy mồ hôi. Thân hình mập mạp đứng trong tàn hoa trông càng có vẻ nực cười tợn, thế nhưng Quý Duệ vẫn xoay người sang.

Hắn xoay người nhìn người vợ buồn cười của mình, người vợ buồn cười như mái tóc đỏ của hắn, mang giá trị không ai tôn trọng, sự tồn tại chẳng được công nhận, tính thiện lương được yêu quý nhưng tràn ngập đến thừa mứa trong cái phủ công tử trống trải này, khiến người ta ngạt thở, khiến người ta tuyệt vọng.

Thu Lê khẽ gọi ‘Công tử’, thế nhưng Quý Duệ lại ngẩn ra rồi ch** n**c mắt.

Hắn không có gì, chỉ còn một người vợ. Hắn không rõ bản thân đang cố trù tính vì cái gì, thế nhưng trong khoảnh khắc đó, bỗng cảm thấy nếu lời mưu phản Giới nói là sự thật thì tốt biết bao.

“A Lê, nếu ta mưu phản, nàng sẽ ra sao?” Hắn mỉm cười, loạng choạng hỏi thê tử, không sợ tai mắt đang chờ đồn đãi trong vườn này.

Thu Lê ngẩn người, nháy mắt trịnh trọng quỳ xuống trước Quý Duệ, vén váy, thi lễ một cái, “Quân làm thế nào, thiếp sẽ thế ấy. Quân là loạn thần, thiếp làm tặc tử.”

Hành vi của Quý Duệ ngày càng ph*ng đ*ng. Tin đồn hắn dùng ngàn vàng mua rượu đã lan truyền khắp thành Thất thương. Ngày hôm sau, Trịnh vương tước bổng lộc Quý Duệ. Tứ công tử lại đến tiệm rượu uống nợ, tôi tớ đến kéo không về, lần nào cũng là Thu Lê cõng hắn hồi phủ.

Hắn ở sau lưng thê tử, cười to quát ‘Đi nào, đi nào’, giống như đang cưỡi ngựa phi, làm nhục thê tử lẫn chính mình, Trịnh nhân vây xem đem Tứ công tử làm câu chuyện nực cười nhất nước Trịnh, vang xa tới nước láng giềng Tề Sở, trở thành tài liệu giáo dục về gương xấu cho con cháu tôn thất.

***

Mùng mười tháng tư, cung Trịnh vương xảy ra chính biến. Hơn ba ngàn cấm vệ quân nội thành chặn trước cung Trịnh vương. Thủ lĩnh Thiên vệ giao úy rút đao hô lớn: “Phụng ý chỉ chủ ta Tứ công tử, Trịnh vương bất nhân, giày xéo thảo dân, lòng muông dạ thú, có ý phản trắc, nhưng Chiêu thiên tử nể tình huynh đệ, lần lữa không đành. Nhưng là thần tử của vua, nhận lương bổng của ngài, vì dòng họ Thành, phải Thanh quân trắc (*thanh trừ thân tín, gian thần của vua)!”

Cả cung náo động. Một ngàn cận thần thị vệ cố thủ kháng cự, cũng chỉ khắc chế được nửa canh giờ. Thấy tình hình bất ngờ, thị tì trong cung khóc lóc rung trời, tiếng chuông canh ba vừa dứt ba tiếng, bỗng một vạn đại quân đột nhiên ùa vào qua cổng Khánh Nhung, thì ra thế tử Hạnh mang binh mà đến, chỉ trong nháy mắt đã bao vây cấm vệ quân. Mọi người như cây cỏ chịu hạn lâu ngày bất ngờ gặp mưa rào, reo hò phấn chấn.

Hạnh sai người bắt sống Thiên Vệ giáo úy, đại công tử Bá Thanh hạ lệnh, nếu có chống cự, giết không cần báo. Lúc canh bốn, trời tờ mờ sáng, Thiên Vệ giao úy rút kiếm tự vẫn, máu nhuộm cờ đen, lúc hấp hối, ch** n**c mắt thán rằng: “Ta hổ với công tử, thẹn với chúng sinh!”

Trịnh vương khoác hắc bào, đứng trên thành lâu, nhìn Hạnh xa xa, tóc đen hỗn loạn, còn vương sương trắng, lõa xõa trên vai, chưa kịp búi chải.

Ông ta lạnh nhạt nói: “Con ta thật ngốc,” Trong giọng nói chất chứa nỗi bi thương và sủng ái khó tả thành lời.

Quý Duệ bị xích ở khớp xương, nghe đồn hắn mạnh lắm, không dùng cách này, e sẽ thoát được. Người mang hắn tới đây lúc còn trong giấc mơ là thế tử Hạnh.

Tất cả mọi chuyện đều xảy ra ở canh năm.

Quý Duệ mở hai mắt nhìn Hạnh, người đầy mồ hôi, lẩm bẩm nói: “Đệ đã tới.”

Thu Lê không ngủ cả đêm, bàn tay mũm mĩm của nàng sờ lên trán Quý Duệ, vui vẻ nói: “Hạ sốt rồi.”

Quý Duệ đã sốt cả đêm. Hạnh ngẩn ra, vẫn phất tay như cũ, thị vệ móc khóa tì bà như đã gỉ sét ra. Bình thường hầu như không có cơ hội dùng thứ này.

Xích nhọn móc vào, mũi nhọn lạnh lẽo được tắm trong máu nóng. Khóa tì bà đâm vào xương thịt Quý Duệ, Thu Lê hét lên, run rẩy, có yêu quang không khống chế được phát ra từ đầu ngón tay.

Ánh mắt Hạnh thâm hiểm, chỉ vào Thu Lê nói: “Ả là yêu, là thủ phạm chính mê hoặc Tứ công tử tạo phản, bắt lại!”

Hạnh có lòng riêng giấu kín, chỉ khi diệt sạch mới thỏa lòng.

Mồm miệng Quý Duệ phun máu tươi, nhìn Thu Lê sững sờ. Thu Lê lùi lại một bước, gió lạnh nổi lên.

“Tướng công, A Duệ, chàng chớ sợ, ta cứu chàng.” Nàng luống cuống dùng hết tất cả phép thuật mà mình biết, miệng nói chàng chớ sợ nhưng thật ra bản thân lại hoảng loạn hơn bất cứ ai.

Quý Duệ ho rất mạnh một hồi, sờ tới cái bàn trước cửa sổ còn vài bình rượu chưa uống hết, mạch máu dưới da căng cứng, quân lính xung quanh nhìn Quý Duệ đang cắn chặt mà còn cảm thấy đau thay cho hắn.

Quý Duệ ngẩng đầu lên, cầm bình rượu rót vào miệng. Hắn cúi đầu, đôi mắt đỏ ngầu nhìn Thu Lê. Một lúc lâu sau mới nâng mặt nàng lên, giọng lạnh như băng: “Nàng là yêu?”

Thu Lê gật đầu, hai tay đã biến thành móng vuốt đỏ sậm. Nàng tập trung yêu lực trên lưng Quý Duệ, từ từ rút khóa tỳ bà lên. Quý Duệ lại nắm chặt đôi vuốt hồ ly, hỏi: “Ta và nàng có duyên phận gì, vì sao lại đến bên ta?”

Thu Lê run rẩy nằm sấp trên đất, nhắm mắt, nhớ tới lúc bị con người ức h**p, trói gô, nàng nhớ tới mái tóc đỏ chỉ mình Quý Duệ mới có. Nàng nói dối, trong lòng cũng đang không hiểu nổi chính mình, tại sao mình lại ngu muội tới vậy: “Có người bắt ta, chàng từng cứu ta.”

Tướng công nàng từng hại nàng, nhưng trời xui đất khiến thế nào, cuộc đời lại không cần tôn nghiêm, đưa đẩy gả cho chàng. Thế nhưng sai cũng là trời khiến đất xui, nàng đã thích hắn rồi.

Quý Duệ như yên lòng, thở dài một hơi, khẽ cười nói: “A Lê, ta không ghét bỏ nàng xấu, không ghét bỏ nàng ăn một ngày tám chén cơm, không ghét bỏ nàng là một yêu tình. Chỉ xin nàng cuộc đời này chớ đừng ghét một gã sinh ra với mái tóc đỏ, chớ đừng ghét bỏ ta hại nàng phải chịu tiếng xấu là vợ của một kẻ loạn thần tặc tử. Nếu vẫn còn sức lực, sau này hãy mang tro cốt của ta tới giữa núi rừng, ta nguyện ở cạnh A Lê, vĩnh viễn bên nàng.

Hắn đẩy Thu Lê, run rẩy đứng dậy, mắt sáng như đuốc, nhìn Hạnh nói: “Thả nàng ra.”

Hạnh cười lạnh: “Dựa vào gì? Thứ yêu nghiệt kia, ai thấy cũng giết. Ta sẽ mang ả đi gặp phụ vương, có thể gánh tội thay ngươi đấy, Tứ ca tốt ơi.”

Quý Duệ cười nhạo, “Có điều, ta chán ghét cuộc sống này rồi, không muốn sống nữa, A Hạnh.”

Móng vuốt đỏ sắc bén của Thu Lê đâm vào lòng bàn tay Quý Duệ. Nàng không nỡ bỏ phu quân của mình, mặt đầy nước mắt, như trái lê ngâm nước, xấu xí trước giờ. Quý Duệ đưa đóa hoa lê mới hái cho Thu Lê, tay dịu dàng xoa đầu nàng, thở dài: “Ta đã đồng ý với mẹ rồi, A Lê.”

***

Tứ công tử quỳ gối. Hắn không nhìn phụ vương, mọi ý niệm hóa thành tro bụi, miệng mang ý cười.

“Thiên Vệ giáo úy do ngươi một tay khống chế phải không, Quý Duệ?” Trịnh vương nhìn con mình, lạnh lùng hỏi.

“Đúng.” Quý Duệ cúi đầu.

“Vì sao? Cô đối xử với ngươi không tốt chỗ nào?” Trịnh vương siết chặt tay ghế, sắc mặt vẫn không đổi.

“Không có, thần là con nuôi, hưởng nhiều quân ân.” Đứa con nuôi Quý Duệ cười.

“Ngươi có đồng bọn không?” Hơi thỏ Trịnh vương không thông, nhắm hai mắt lại.

“Có.” Quý Duệ ngẩng phắt đầu dậy, hưng phấn nói: “Kẻ đồng bọn với con nuôi Quý Duệ đang ở trên đại điện này! Bọn họ cùng ta trăn trở không yên bày mưu Trịnh thất, tính kế ngôi vị của Hạnh, diệt trừ Vương và Thế tử, cả ngày nghĩ suy, đêm không ngon giấc!”

Quý Duệ bị trói ngược hai tay, máu ở sau lưng đã chảy thành suối. Hắn đứng dậy, cười ha hả chỉ vào hai kẻ đứng hàng đầu, cao giọng nói: “Thần có đồng bọn, đã cùng bày mưu tính kế với đại công tử Bá Thanh, Lục công tử Giới và Vương trắc phi!”

Bá Thanh và Giới cực kì hoảng sợ, quỳ ra khỏi hàng, cùng lớn tiếng thưa: “Phụ vương, con bị oan!”

Phúc Thái phó quát lớn: “Tội thần Quý Duệ, ngươi có bằng chứng gì?”

Quý Duệ móc mấy phong thư trong lồng ngực, đập vào mặt Giới, giọng điệu càng phấn khích, như đã đợi giờ khắc này đã lâu: “Bức này, là thư tín mà ta và Giới đã cùng lén lút qua lại trong tháng ba năm nay. Hắn nói, Thế tử Hạnh luôn căm hận ta từ lâu, nếu không hành động thì sẽ vuột cơ hội; Còn bức này, là Giới viết sau khi tố cáo ta làm phản, hắn nói đã hao tổn tâm cơ, để ta bị chúng bạn xa lánh là để ta hạ quyết định, mau chóng phát động tử sĩ trong quân; Bức thứ ba, Giới nói nếu ta hành động, giết Vương và Hạnh, ngày hắn lên ngôi, nhất định sẽ phong ta làm Thiên kỵ tướng quân, vạn hộ chi hầu!”

Giới ngồi thừ trên đất, trán bỗng rịn mồ hôi, hắn không thể ngờ, hét lớn: “Ta chưa bao giờ đưa gửi những thư này cho ngươi, Quý Duệ, thứ Di nhân tạp chủng hạ tiện, sao ngươi dám vu oan cho ta!”

Quý Duệ sải bước tới, ống khóa lê theo đẫm máu. Hắn túm chặt Giới, cười lạnh: “Ta có phải tạp chủng hay không, chẳng phải ngươi và mẹ ngươi biết rõ nhất hay sao?”

Bá Thanh nhìn Quý Duệ sừng sũng như núi, môi mấp máy, không nói nên lời.

Thái phó nhặt thư lên, đưa cho Trịnh vương. Sắc mặt Trịnh vương đầy phức tạp, nhìn Quý Duệ, hồi lâu nói mới nói: “Là bút tích của Giới.”

Giới dập đầu thật mạnh, trán đã rịn máu, hắn sợ hãi, nói như rách cổ họng: “Nhi thần bị oan! Con chưa từng viết thư này, đây là, đây là do Quý Duệ có tâm địa độc ác, bắt chước nét chữ của con, để tiêu diệt con, để…”

“Để làm gì?” Trịnh vương cười lạnh.

Đáy mắt Hạnh tối sầm, không hiểu chuyện gì nhìn mọi người.

Giới như gà mái bị bóp chặt cổ họng, nháy mắt không nói nổi nên lời, lập tức nghĩ sang hướng khác, liên tục vừa dập đầu vừa khóc nói: “Đây là chủ ý của mẫy phi, vì mẫu phi muốn đưa con lên làm Thế tử. Bà ấy biết rõ bút tích của con nhất, do bà ấy bắt chước, là bà ấy, là bà ấy!”

“Liên quan gì tới Vương trắc phi?!” Phúc Thái phó lạnh lùng nói.

Giới thì thào, “Phụ vương biết mà, mẫu phi con hay ghen, năm đó Vương phi có thai, bà đã mua chuộc cung tỳ y nữ, hạ độc mãn tính trong thuốc dưỡng thai, hại Vương phi nương nương chết sớm, hại Đại ca chết non, sức khỏe Hạnh luôn yếu ớt nhiều bệnh, nuôi ở biệt viện. Bà ấy trước nay luôn nham hiểm độc ác, bà ấy là người làm ra chuyện này, không liên quan gì tới con!”

Hạnh siết chặt hai tay.

Trong triều lặng ngắt như tờ, bọn họ không biết nếu cứ tiếp tục nghe chuyện này có chọc Trịnh vương nổi cơn thịnh nộ hay không. Dù sao thì những thần tử địa vị cao nhạy bén linh thông cũng đã sớm biết được từ lâu.

Thần kinh Giới nay không ổn định, nhìn cột rồng ở bốn góc, “Không đúng, đại ca chưa chết, đại ca chưa có chết. Ta hiểu rồi, thì ra là thế, thì ra là thế!”

Đại công tử Bá Thanh hung ác đá Giới một cú, Giới lại lo sợ bất an ngậm miệng, nhìn lên thượng vị – Trong mắt Trịnh vương hiện lên nỗi thống khổ tột cùng và cả khoái ý.

“Chuyện Vương Trắc phi mưu mưu hại Vương phi, Cô sẽ đích thân thẩm tra.” Trịnh vương mệt mỏi nói.

“Vì sao không thẩm ngay bây giờ? Vì sao năm đó không thẩm? Ngài cần cái gì? Vật chứng hay nhân chứng? Nếu cần nhân chứng thì ta chính là nhân chứng lớn nhất! Cái mái tóc đỏ này chưa bao giờ biến mất!” Quý Duệ bi thương nhìn ông ta, lớn tiếng nói, “Trước khi chết mẫu phi đã đau đớn gọi tên ngài suốt sáu canh giờ, nhưng ngài không hề đi tới nhìn bà một cái, để bà chịu thất khiếu chảy máu mà chết trong cô độc. Bà ôm ta, hỏi ta tại sao, bà cầm tay ta, huyết lệ chảy ra như sông, ta lo lắng lau khô con sông kia thì mẫu phi đi mất rồi, ta cứ cầm khăn lau đi lau lại nước mắt của bà, nhưng bà đã bị người ta độc chết thật rồi. Bà đã chết không nhắm mắt!” Hắn chỉ vào Hạnh, “Thậm chí Hạnh còn bị ép đưa đi, chưa kịp nhìn bà lần cuối! Ta đã chôn cái khăn kia dưới tàng cây ngoài cung, ta chờ ngài hỏi mẹ ta có để lại di vật gì không, ta chờ bỗng có một ngày ngài nói với ta, cha nhớ Vương phi, lúc ấy ta sẽ lập tức mang cái khăn đầy máu của bà đưa cho ngài xem, nói với ngài, mẹ không có hận ngài, mẹ không nỡ hận ngài, cứ không nỡ rồi ra đi như thế, mặc huyết lệ chảy khô. Nhưng mà, Trịnh vương điện hạ, ngài chưa từng hỏi tới mẹ ta một lần, thậm chí còn để mặc Vương trắc phi móc trái tim ta ra, để mặc mụ tùy ý hạ nhục mẹ ta, mặc mụ độc chết mẹ ta!”

Trịnh vương đập hết tấu chương trên ngự án đập vào mặt Quý Duệ, nghiến răng lạnh lùng: “Im miệng, thứ yêu nghiệt như ngươi không có tư cách gọi A Tương là mẹ!”

Quý Duệ cười ha hả, thê lương đến vô cùng: “Đúng, ta là một tên yêu nghiệt tóc đỏ, ta là con nuôi Quý Duệ!”

Hạnh trong lòng đau xót, thế nhưng vẻ mặt bình thản, cắn răng nói: “Phụ vương, xin người xử trí nghịch tặc Quý Duệ và Giới, dường như đại ca Bá Thanh không liên quan đến chuyện này, mong Phụ vương minh xét!”

Quý Duệ đi từng bước tới trước mặt Bá Thanh, nhìn từ trên cao xuống, gằn từng chữ: “Ngươi và Giới không phải một bọn sao? Chẳng phải ngươi được sự nhờ vả của Vương Trắc phi và Giới, đến làm mật thám bên Hạnh, châm ngòi quan hệ giữa ta và nó sao? Sao ngươi lại vô tội được, ngươi và ta cùng tạo phản, ngươi chịu làm tay sai của Giới, một kẻ phản tặc như ta nói ngươi có tội rồi thì sao ngươi có thể vô tội được?”

Bá Thanh sợ hãi nhìn hắn, nói: “Ngươi điên rồi, Quý Duệ, thế nhân đều biết ta và Thế tử là anh em thâm tình, sao lại có thể bí mật đi mưu đồ với đám các ngươi để hại hắn?”

Quý Duệ cười to: “Trời tin ngươi, ta không tin ngươi.”

Bọn họ cài mật thám trong quý phủ hắn, hắn đều xử lý từng tên.

Bá Thanh nhìn ánh mắt chất vấn của Hạnh, cắn răng thưa Trịnh vương: “Quý Duệ chỉ toàn nói xằng, không có chứng cớ, bôi nhọ nhi thần, xin phụ vương trả cho nhi thần một công đạo!”

Nháy mắt tay Quý Duệ đặt lên ngực Bá Thanh, trong mắt đầy sự điên cuồng, “Giết ngươi thôi mà, cần gì chứng cớ?”

Dứt lời, nắm tay như sét, một đòn nện xuống, Bá Thanh cứng người, mắt nhìn chằm chằm Quý Duệ, chỉ kịp kêu một tiếng, ngã thẳng đứng trên đất.

Quần thần xôn xao, cực kì sợ hãi. Y quan đã tới, phanh áo trước ngực Bá Thanh ra, lắc đầu, kinh hoảng nói: “Ngũ tạng của Đại công tử đã vỡ nát, không thể nào sống lại.”

Hạnh lùi mấy bước, nhìn thẳng vào Quý Duệ. Quý Duệ đi tới phía Hạnh, mắt mang theo một sự dịu dàng phức tạp không tả thành lời.

Trịnh vương quát lớn: “Bảo hộ Thế tử, không để cho tên yêu nghiệt này tới gần!”

Cung tiễn bao vây Quý Duệ, hắn vẫn bước từng bước, lê xiềng xích, tập tễnh, chật vật tới gần Hạnh.

Hắn không nghe những gì Phụ vương mình vừa nói, cũng chẳng nghe thấy Phúc Thái phó đã nói gì. Cuộc đời này của hắn tới trong vội vã, lại sắp vội vàng rời đi, giây phút cuối cùng này, hắn muốn tới cạnh A Hạnh nói một câu cuối cùng.

Chẳng biết kẻ nào đã nheo hai mắt, nhắm vào Quý Duệ, b*n r* mũi tên đầu tiên. Sau đó tất cả mũi tên còn lại cũng nháy mắt rời khỏi dây cung.

“Không!” Hạnh đột nhiên giật bắn, run rẩy, bỗng mở miệng thét to, thế nhưng âm thanh đã bị tiếng mũi tên xé gió át đi.

Quý Duệ nhìn thẳng Hạnh, bỗng quỳ sụp xuống đất. Trên lưng trúng rất nhiều tên, miệng trào máu tươi.

Mắt Hạnh rưng rưng, hỏi Quý Duệ: “Huynh muốn nói cái gì?”

Quý Duệ nhìn hắn, lấy một cái khăn từ trong tay áo dính đầy máu đưa cho Hạnh, mỉm cười: “A Hạnh, ta đã giết hết tất cả những người muốn hại đệ rồi. Từ nay về sau đệ phải làm Thế tử, làm Vương cho tốt. Mẹ dạy ta phải bảo vệ đệ, ta là kẻ ngu dốt l* m*ng, chỉ làm được thế này. Sau này, chỉ có thể dựa vào chính đệ thôi.”

Hắn luôn muốn phò tá A Hạnh, sau này làm Đại Tướng quân của Hạnh, thế nhưng Hạnh không tin; Hắn xếp sẵn hoa giấy, nào trúc phượng vỹ nào mẫu đơn, dốc lòng bày ra một cảnh ngàn hoa vạn diễm, nguyện dốc hết toàn lực, góp xây thịnh thế, chắp tay dâng vương vị lên, Hạnh vẫn không tin.

Hắn nói: “Xin đệ đừng quên mẹ. Đệ và ta sinh ra mang tóc đỏ, vốn không phải lỗi của mẹ. Nếu phải làm yêu nghiệt, thì một mình ta làm. A Hạnh là vương, vị vương trời sanh.”

Lúc mang thai, Trịnh vương phi bị người ta hạ độc, liều mạng lắm mới sinh được, nhưng đứa bé lại có mái tóc màu đỏ. Bà đau khổ tột cùng, Trịnh vương mang đứa trẻ kia nhốt vào cung, nói với bên ngoài rằng hoàng tử đã chết non. Sau đó ông ta nhận nuôi liền ba đứa con trai rồi mới lấy danh nghĩa con nuôi để thả Đại Hoàng tử ra. Vì mong chờ tình yêu của Trịnh vương điện hạ, bà mong ngóng, bất chấp cơ thể đã bị tổn thương, sinh đứa con thứ hai.

Lại là một đứa trẻ tóc đỏ.

Mắt Quý Duệ sáng ngời, nhìn Hạnh, cố gượng cười, thê lương mà rằng: “Đệ và phụ vương trù tính hãm hại ta, muốn giết thứ yêu nghiệt này, dù ta hận đệ, nhưng không thể nào trách đệ được. Mấy ngày trước, ta từng cứu Thái tử Thành Anh, nếu sau này chàng ta đắc thế, đệ có cầu xin, sẽ tha đệ một mạng.”

Một ngàn cấm vệ quân kia, nếu không được ý chỉ của Trịnh vương thì làm sao có thể lặng lẽ bao vây Trịnh vương cung được? Phụ thân sợ tên yêu nghiệt như hắn biết quá nhiều, sợ tên tóc đỏ là Đích trưởng tử đích thật, sợ sẽ cản trở con đường của Hạnh, nếu không g**t ch*t, như lời khai của hắn trước đây, sẽ thành kẻ phản trắc.

Hạnh giơ hai tay che mặt, nước mắt len lỏi qua khe kẽ tay. Hồi lâu, gào khóc thật to. Y không thể hiểu nổi kẻ kỳ quái này, không biết vì sao mọi chuyện lại thành như thế này, cúi đầu nhìn mái tóc đen của mình, con ngươi tĩnh mịch, khiến y phải sợ hãi, khiến y rất đau khổ.

Quý Duệ gắng sức để rút bốn mũi tên trên ngực, thất thểu bước ra ngoài. Hắn phải chết bên cạnh vầng trăng sáng của mình, đó mới chính là phần mộ của hắn.

Phúc Thái phó quát to: “Bắt lấy hắn!”

Bỗng có thị vệ ngoài cung chạy tới cấp báo, hoảng hốt chạy bừa, đụng ngã Quý Duệ: “Báo! Có người tự xưng là Phù Tô, bắt sống hai nghìn cấm vệ quân, mang một vạn cung kỵ binh tới để đàm phán với điện hạ. Y nói, nếu không thả vương tử Thành Vân, sẽ đánh vào Trịnh vương cung!”

Ngày đó, Thái tử điện hạ còn nhỏ. Đứa trẻ ở trên cây vênh váo, ngoắc chàng: “Thái tử điện hạ, Ta tên Thành Vân, cứ gọi là A Vân là được rồi!”

Cuối cùng chàng ta cũng nhớ ra.

Quý Duệ nằm trong vũng máu, nghĩ vậy, nhìn trời, cười ra tiếng.

Thiếu niên mặt áo trắng tay xanh ngồi trên con tuấn mã màu đỏ đi tới. Chàng nheo mắt nhìn Thất vương thúc của mình phía trên thành lâu và Quý Duệ đã bẩn hết cả người, chỉ còn một hơi thoi thóp.

“Thả hắn ra.” Phù Tô thở một hơi dài.

Thiên quân vạn mã phía sau chàng nhìn chủ soái trên cổng thành, mọi người sục sôi, căm phẫn dâng trào.

“Rốt cuộc ngươi… vẫn phản.” Trịnh vương thản nhiên nhìn Quý Duệ, nhẹ giọng gọi, “A Vân.”

Vân (*) là đứa trẻ chưa ra đời mà ông ta và Vương phi luôn chờ mong, đó là cái tên mà cả hai nghĩ ra khi cả ngày quấn quýt bên nhau trước đây. Trịnh quốc có một bài dân ca được tương truyền từ lâu – “Cây vân núi Dương Hoa, tưởng chết mà lại sống, nở thật nhiều hoa thơm, mọc cao thẳng đẹp đẽ. Có đức hạnh cao sang, chẳng màng chi vẻ ngoài; Mang kì tài nổi bật, chớ màng chi vẻ ngoài; khắp bang thổ sĩ quốc, mỗi bậc đức tài này, đừng màng chi vẻ ngoài.

(*) Từ Vân (芸) này có nghĩa là cây cải dầu/ Hạnh là rau hạnh.

Ở nơi núi cao thâm sâu, có trồng một cây cao như A Vân con ta. Nó thẳng tắp rắn rỏi, đức hạnh lại tài cao. Ta không cần dung mạo nó phải rất đẹp, chỉ mong nó có thể mang tài đức của mình, an bang định quốc, tìm được đường sống trong chỗ chết.

Chẳng cần vẻ ngoài của nó phải thật đẹp đẽ làm chi.

Sao trời xanh thánh minh quá.

Ông ta không thể bỏ qua thiên phú quân sự của A Vân, trong lòng lại cực kì căm ghét dung mạo của hắn.

Thành Vân cười ha hả, vui vẻ reo lên với Phù Tô: “Điện hạ, làm phản hay quá, phản cho lão ta phải buột miệng chửi, phải vậy chứ! Chuyện ta không dám làm, Điện hạ làm thay ta!”

Điện hạ?

Điện hạ nhà ai mà có thể khiến một Điện hạ danh chính ngôn thuận Thành Vân này phải gọi một tiếng Điện hạ? Thịnh vương nheo mắt nhìn kĩ, hít một hơi.

Đúng là Điện hạ!

Quả thật như lời đồn, chàng còn sống!

“Điện hạ đến thăm có chuyện gì? Sao lại lấy binh sĩ quốc gia ta để đối đầu Quốc quân của chúng!” Trịnh vương mỉm cười hành lễ, miệng nói lời trào phúng.

Phù Tô ngửa đầu, lạnh nhạt nói: “Trịnh vương điện hạ, ta đặc biệt tới đây, vì muốn luận với ngài một đoạn.”

Trịnh vương ngẩn người.

“Luận Trịnh và Chiêu. Luận nước là Trịnh, có trăm vạn dân. Ba mươi là quân, bảy mươi là dân. Lương tồn đầy đủ, ngô lúa tích đầy. Gần có Tề Sở, xa lại Mục Vệ; là bậc thiên thừa, nắm chặt trung nguyên. Luận nước lấy Trịnh, Sở Ngụy liên kết, cống nạp ba năm, quyết không nhập cung. Đại Trịnh phi ngẫu (*), em trai của vua, tông thị nhất tôn, tám con hai đích (**). Dân giàu tôn kính, quan thân lại phú, định (* định của ổn định) là vì dân, khởi là nhờ quân. Luận nước lấy Trịnh, có một minh châu; Luận trời lấy Chiêu, vô tôn vô nghi. Thiên tử mục nát, Bách quốc phân ly, áp trên ép dưới, chó chết thóp thoi. Luận Trịnh và Chiêu, một bang một quốc (***), minh châu lấp lánh, rơi xuống chết chó. Minh châu chó chết, tàn sát diệt trừ, nếu muốn nướng thịt, từ từ mà chờ. Ngô vương không cam, càng chờ càng nhẫn, đại quốc Phù Sai (****), liên tục đốt củi. Luận Trịnh và Chiêu, thời cơ đã đến, quốc lực cả nước, có thể phản rồi.”

(*) Phi ngẫu: Không thể địch nổi

(**) tám đứa con, hai đứa là con vợ cả.

(***) Bang là nước lớn, quốc chỉ nước nhỏ.

(****) Ngô Phù Sai – một vị vua thời Xuân Thu.

Dựa vào quốc lực cả nước, Trịnh quốc có phản Chiêu rồi.

Tranh giành đích tử thì có là gì? Trưởng tử chết thì có làm sao? Vì mong Trịnh quốc nhanh chóng ổn định, mưu đồ ngày sau trở thành thiên tử chí tôn, tất thảy đều đáng giá.

Phù Tô thản nhiên đọc, mọi người lặng như tờ, không hề có tiếng động.

“Thất hoàng thúc,” Phù Tô cười nhạt, “Ta đoán trúng tâm sự của ông chưa?”

Quý Duệ ho dữ dội, phun ra máu loãng, sau đó cười lớn: “Công tử Phù Tô, thần kỳ đấy.”

Trịnh vương siết chặt hai tay, lạnh lùng nói với Hạnh: “Gọi Phong hỏa đài, điều binh đột phá vòng vây, giết không tha! Tại đây lúc này, trừ ngựa, không để lại người nào!”

Phù Tô cầm binh phù, huơ tay về phía cửa thành, lạnh nhạt nói: “Ngọc phù ở đây, tấn công!”

Trăm ngàn kỹ sĩ ở sau theo đó mà trả lời rung trời, Quý Duệ thở dài: “Ngươi việc gì cứu ta? Ta vốn muốn chết.”

Phù Tô ngẩn ra, lúc sau mới nói: “Nếu đã vậy, lúc ta muốn chết, ngươi cần gì cứu ta?”

Quý Duệ nở nụ cười, “Ta đâu biết lúc đó ngươi muốn chết.”

Con ngươi Phù Tô đen thẫm, nhìn hắn cười nhạt: “Vậy ta cũng không biết bây giờ ngươi đang muốn chết.”

Mắt Quý Duệ sáng ngời, hắn nói: “Nếu ta có thể sống, có thể giúp điện hạ làm gì đây? Ngươi biết không, ta không thích đọc sách, chưa bao giờ hiểu thanh nhạc, thư pháp viết cũng không nhìn nổi…”

Phù Tô ngẫm nghĩ, “Ngươi cứ ăn cơm, lại có thể uống chút rượu, là đủ rồi.”

Hai người bọn họ là chim không tổ, không cha mẹ, ở chung với nhau, cùng mổ hạt gạo, hớp chung ngụm rượu.

Quý Duệ cười ha ha, hắn gật đầu, nói Được.

Hắn thở dài nói: “Cuộc đời này có thật nhiều tiếc nuối, không thể cùng phân cao thấp với Mục vương thế tử nữa rồi.”

Hắn đoạt đao trong tay thị vệ, nhắm hai mắt. Hắn nói: “Điện hạ, đại quân tới gần, nhanh đi, mau rời khỏi nơi này, nếu có kiếp sau, Vân và Điện hạ, người làm Quốc quân, kẻ làm Quốc sĩ.”

Phù Tô nhìn hắn, gió thổi bay tóc đen của chàng, trong lòng có thứ gì khó chịu đang không ngừng chui ra ngoài. Chàng muốn lớn tiếng nói Đừng, nhưng, vẫn không kịp mở miệng.

Lưỡi đao kia rất mỏng, Thành Vân lại nhớ tới chén máu kia. Hắn không thể để liên lụy khiến người duy nhất đối tốt với hắn mất đi cơ hội sống được.

Phù Tô đọc rất nhiều sách, còn sống thật là có nhiều tác dụng. Nhưng mà A Vân, ít đọc sách, trừ việc xếp cả vườn hoa giất, để bốn mùa cùng khoe sắc, mơ giấc mộng sớm sớm chiều chiều, như đã không còn tác dụng nào khác.

Bỗng nhiên, một trần cuồng phong kéo tới. Mọi người không kịp phản ứng thì ở trên lầu cao có một thiếu niên mặc áo tang, vừa cao vừa gầy, như quỷ bị lao.

Y há mồm thật to, nháy mắt Thành Vân như bị bốc hơi, biến thành một bức tranh nhỏ, dưới mặt trời âm u, bay phất phơ, rồi bị nuốt vào bụng.

Tất cả mọi người đều sợ ngây người nhìn khung cảnh này.

Y nhìn Phù Tô, sau đó chậm rãi nở nụ cười, “Phu quân, lành bệnh rồi, có khỏe lại như trước không?”

Phù Tô siết chặt cương, nhìn nàng, nỗi yếu ớt trong lòng dâng trào, chàng vươn tay, như muốn sờ lên búi tóc xốc xếch xa xa của nàng, cuối cùng lại rút ngón tay trắng nõn thon thon về, khẽ gật, nói nhạt: “Khỏe.”

Nàng cũng gật đầu cười nói: “Vậy thì tốt, Nếu thế, theo vợ về nhà thôi.”

Nàng vừa dứt lời, ông tay áo thùng thình vung lên, thiên quân vạn mã dưới cổng thành và cả Phù Tô đều biến thành những tờ giấy nhỏ, dữ dội như đại dương, nháy mắt trôi hết vào tay áo nàng.

Gió lặng rồi.

Dưới thành lâu, chỉ còn một khung cảnh trống trải. Đám thiên quân vạn mã ban nãy cứ như một giấc mơ, khiến tất cả mọi người phải giật mình kinh hãi.

Sau đó, thiếu niên thi lễ với Trịnh vương, mỉm cười nói: “Trịnh vương điện hạ, cáo từ.”

Y xoay người bay đi, Trịnh vương cầm chuôi dao, muốn đâm tới thiếu niên, lại nhào vào khoảng không.

Thân ảnh đó đã không còn tăm tích.

***

Trên núi Linh Bảo.

“Đa tạ ân công có ơn cứu mạng con ta.”

“Nhạc mẫu đại nhân, từ giờ, con là con rể của người.”

“Đa tạ ân công có ơn chịu cưới con ta”

“Ơ? Vâng.”

“Nói tới chuyện này, lão thân thật may mắn. Ngày đó nhờ cứu sống Phù Tô mà mới có sự thần thông quảng đại của Hề Sơn quân, giả làm phú ông kiếm rể.

“Đúng vậy.”

“Thật ra thì, lại nói, Thu Lê vốn là một đứa trẻ rất xinh đẹp, rất thơm, tiếc là đã đánh mất hương. Sau này ta đã cố gắng biến nó thành hình người nhưng không thể nào giúp nó xinh đẹp hơn. Lại kể, bà già này nhớ năm nó, nếu không có con ôm nó ra khỏi Trịnh vương cung, ta không biết phải nên làm thế nào.”

“À, thì ra A Lê là con tiểu hồ ly đỏ ngày đó, thảo nào cứ thấy quen. Ngày đó A Hạnh trở về cung từ viện khác, ta rất vui, đi qua nhà bếp, thấy nó đáng yêu tội nghiệp quá, để tích đức cho Hạnh nên phóng sinh.”

“Nhưng hương của A Lê đến giờ vẫn chưa tìm về được, lòng ta buồn lắm.”

“Thì ra là thế.”

[Nguyên]: Nếu mọi người đọc một lần chưa hiểu lắm thì có thể đọc lần thứ hai để hiểu rõ chương này; Nếu vẫn có chỗ nào chưa hiểu hay chưa rõ, edit khúc nào còn tối nghĩa thì comment để mình giải đáp nhé :)