“Năm mười tám, Tam công tụ, bình Trịnh loạn.”
–[Chiêu sử · quyển ba]
Ngày xưa có một ngọn núi hoang vô danh,
Trên núi chỉ có một cái cây, một con mãng xà, một con khỉ.
Sau đó, lại có một thiếu niên mặc áo tang đến, tự xưng là Hề.
Khỉ thích người, theo thiếu niên kiếm ăn. Ngày nọ nổi cơn nghiện rượu, nó lén lấy ngọc bội của thiếu niên mang xuống chợ dưới chân núi để đổi một vò rượu đào.
Rượu đào ngon ngọt, khỉ uống tới mức lỗ chân lông đều mở ra khoan khoái. Nó chỉ cần tu hành trăm năm là phi thăng, vốn cũng chăm chỉ tu luyện, nhưng lúc này đây, ngắm nhìn dải ngân hà rực rỡ, đất trời mênh mông, lại thấy làm người cũng có mấy phần thú vị. Khỉ thổi sợi lông, vung tay một cái, lập tức lắc mình biến thành một thiếu niên tuyệt sắc mặc áo bào xanh lục, mỉm cười ngả lưng giữa núi rừng,
Thiếu niên áo tang có một cái rương màu đỏ, trong rương toàn là sách cổ trân bảo, là những thứ mà cha hắn tặng cho trước khi đi. Thiếu niên mất ngọc bội, như mất cả hồn phách, vội vàng mang những thứ trân bảo trong rương xuống hiệu cầm đồ để đổi lấy ngọc bội về.
Ngọc bội có tỳ vết, khỉ chẳng thèm ngó tới, cho rằng thiếu niên chỉ chuyện bé xé ra to. Tính nó vốn ngang ngược, bỗng nổi ý tinh quái, giật ngọc bội giắt ở thắt lưng thiếu niên xuống, cầm trong tay nheo mắt ngắm nghía, phát hiện trong ngọc có một thiếu nữ áo vàng, mỉm cười dịu dàng. Khỉ dụi mắt, thiếu nữ cũng học theo, dụi mắt. Khỉ nhăn mặt, thiếu nữ cũng bắt chước. Khỉ như nhặt được báu vật, hí hửng đi tìm thiếu niên áo tang.
Vì nó đã nhiều lần trộm ngọc nên thiếu niên rất giận, chẳng thèm để ý tới Khỉ. Thiếu nữ trong ngọc thấy thiếu niên nổi giận cũng xoay người, đưa lưng về phía Khỉ, không đùa giỡn với Khỉ nữa. Khỉ trợn tròn mắt, vốn là đứa trẻ bướng bỉnh được trời đất nuôi lớn, có từng bận tâm tới cảm xúc của người khác bao giờ? Thế nhưng nay lòng đã vương vấn cô gái trong ngọc rồi, Khỉ rối rít chắp tay cầu xin tha thứ của thiếu niên, khiến người ta cảm thấy vừa tức vừa muốn cười.
Thiếu niên vuốt ngọc bội, thở dài một hơi, lấy dây đỏ xỏ vào ngọc, đeo lên cổ Khỉ. Từ đó khỉ đi đứng nằm ngồi vẫn luôn như hình với bóng cùng cô gái trong ngọc. Cả hai cùng lớn lên, nương tựa vào nhau.
Khỉ vốn do linh khí đất trời tụ thành, ngày ngày ủ ấm ngọc bội. Bỗng một hôm, tiểu cô nương trong ngọc ‘vù’ một tiếng hiện ra, rơi thẳng xuống người con khỉ đang ngửa đầu nhìn trời. Lúc ấy Khỉ đang hóa thành hình dạng thiếu niên loài người, ngây ngốc ngắm trời, trông đợi ngày phi thăng; đợi mãi đến lúc không chờ nổi nữa, thì thiếu nữ áo vàng với gương mặt nhỏ nhắn kia cứ thế rơi vào giấc mộng của nó.
Khỉ tu đạo Tiêu dao, sững sờ nhìn mỹ nhân hoạt bát sống động trước mặt.
Giữa biển khổ vô biên, chị mỉm cười với Khỉ.
Chị nói, ta là Tam nương, Kiều Tam nương.
Khỉ cưới Kiều Tam nương.
Khỉ thành cha, thành ông nội, ông cố nội của rất nhiều khỉ con, nhưng vẫn chưa hề phi thăng. Công đức đã đủ, nhưng vì mỹ sắc mà hỏng mất đạo hạn. Kết quả, thất bại trong gang tấc.
Khỉ vốn là một con khỉ vui vẻ tự do giữa đất trời. Thế rồi từ từ, Khỉ không còn vui nữa.
Nhiều năm trôi qua, quỷ sai tới núi này đã hơn mười lượt, rất nhiều lần muốn mang hồn phách của Tam nương đi, nhưng vì Tam nương có lai lịch rõ ràng, thuộc vào yêu tịch nên lại thả ra.
Khỉ không biết Minh giới đang truy lùng ai, thế nhưng chắc chắn người này có liên quan mật thiết với Tam nương. Tam nương thường nhắc về một nam nhân gọi là ‘Nhị lang’, Nhị lang đã qua đời từ rất lâu rồi.
Tam nương có một bí mật không muốn ai biết. Nhưng Khỉ biết cả. Nhị lang là anh ruột của thị, nhưng cô lại luôn si mê huynh trưởng của mình.
Là một con khỉ được trời sinh đất dưỡng không câu nệ, cũng tới một ngày, sẽ nhìn thấu nữ tử có lòng dạ xấu xa, bất chấp luân thường này. Sẽ có một ngày, cắt đứt duyên phàm.
Đây là kiếp – là kiếp số mà mọi chân tiên phải trải qua trước khi phi thăng.
***
Trận chiến ở tiền phương đã giằng co quá lâu, Giang Nam hầu không phòng kịp, bị Trịnh vương thế tử – Hạnh – một mũi tên bắn chết. Chủ soái tử trận, cả triều chấn động.
Thiên tử vốn nghĩ trận phản loạn vậy thì chỉ cần một hai tháng là dẹp yên, nào ngờ lửa này lại cháy mạnh đến vậy, giằng co suốt nửa năm, khi quân của vương gặp Mục quân, hai mươi vạn đại quân, đến nay vẫn chưa phân thắng bại; khi thì gió đông áp gió tây, lúc lại gió tây thổi gió đông, hai bên đều mệt mỏi. Nay Giang nam hầu vừa chết, đại quân Trịnh – Sở vui mừng khôn xiết, khí thế hừng hực, đánh cho vương quân phải thoái lui ba mươi dặm.
Mà ở ngay tại thời khắc ấy, Mục vương thế tử Thành Giác lại không ở trong quân. Hắn phụng chiếu Thiên tử, đến Giang Đông để mượn quân lương Tạ hầu. Nói là mượn, nhưng Thiên tử đã muốn thì đại khái là mượn không trả. Tổng quản nội đình của phù Tạ hầu, Tạ Do, thưa, phân nửa gia tài đã trao cho người trừ được quỷ, nửa còn lại trả về chủ trước đây, giờ đây Tạ hầu phủ đã rỗng tuếch. Đương nhiên, Tạ Do cũng thuận đà nói thêm, chớ cần tìm Hầu gia nhà lão để ban chiếu nữa đâu, Hầu gia đã đi cùng Vương phi rồi.
Thành Giác nghe tới ba chữ ‘Chủ trước đây’, khó nhọc hỏi lại: “Nam hay nữ? Cao thấp thế nào?”
Tạ Do sai người từ từ đóng cửa lại, thưa: “Đã đi từ nửa đêm, nếu đi bộ thì chắc chỉ ở ngoài thành ba mươi dặm. Nhưng nếu là kì nhân dị sĩ thì có khi đã hơn ba trăm dặm rồi không chừng.”
Thành Giác ngồi trong quán rượu, uống liền ba chén, tự rót tự uống. Nay đã vào cuối thu, lá khô rụng, khí lạnh từ từ kéo tới.
Vào ngày cuối cùng ở phủ Tạ hầu, chẳng biết Yến nhị và Tạ Do đã bàn những gì với nhau, tới khi khởi hành, đáng ra phải tặng một nửa gia sản thì thành tặng sạch toàn bộ. Chàng thanh niên áo đen lặng lẽ nhìn Hề Sơn quân, chầm chậm quỳ xuống, dập đầu ba cái trước nàng. Y nói: “Đa tạ Sơn quân đã dạy dỗ ta suốt nhiều năm.”
Hề Sơn quân ừ một tiếng, đỡ y dậy, cũng chẳng biết nói thêm gì. Yến nhị nhìn nàng, trong mắt từ từ lấp lánh ánh nước, “Hóa ra, nàng lại để tâm những thứ này.”
Y như tự giễu, như nuối tiếc, lại như đã nhìn thấu bi ai của thế gian.
Danh lợi, tài phú, quyền thế, – thứ nào nàng cũng không muốn buông bỏ, thứ nào cũng muốn nắm trong tay. Những điều nàng muốn, y đều có thể cho, nhưng nàng lại đi tìm người khác để lấy. Người mà y luôn trân quý, luôn lo rằng không ai có thể tới gần nàng, nhưng từ đầu những thứ nàng muốn chưa từng là những thứ y nguyện trao.
Phù Tô viết thư trao đổi với Quý Duệ, chỉ nói rằng Yến nhị định mang đệ tử Tạ phủ cải trang thành thương đội tới quỷ vực, đổi tài sản khổng lồ này thành quân tư, lệnh Quý Duệ đi tiếp ứng. Chàng vừa thả bồ câu đưa thư, quay người lại đã thấy Yến nhị mặt mày thất thần, mắt còn vương lệ, đứng cạnh Hề Sơn quân, như bị đả kích bởi điều gì đó.
Chàng không nhịn được mà bật cười, lẽ ra người nên khóc là chàng mới phải? Bị lợi dụng gần nửa cuộc đời.
Chàng vỗ nhẹ lên vai Yến nhị, nói: “Bỏ đi, Nhị đệ, đừng dây dưa với nàng nữa, chẳng ai chịu nổi nàng đâu.”
Hề Sơn quân vốn đang lúng túng, nghe Phù Tô nói vậy lại có vẻ gấp gáp cuống quýt, gượng cười: “Đúng vậy đúng vậy, bỏ đi, bỏ đi. Trên đời này có nhiều yêu quái tham tài, háo sắc lắm, đâu phải mỗi ta? Nhìn thoáng chút đi, Nhị ca.”
Yến nhị nghe nàng gọi tiếng ‘Nhị ca’ ấy, đến đầu cũng chả buồn ngoái lại, dẫn theo đệ tử Tạ phủ, chán nản rời đi.
Đúng là lúc phần nào cảm nhận được – Yêu quái này, đã hết thuốc chữa.
***
Phù Tô cùng Hề Sơn quân trở về Hề Sơn. Chàng từ biệt với tất cả lớn bé trong nhà, lần này thật lòng muốn rời khỏi đây.
Hai Nhăm hỏi bao giờ chàng mới về. Phù Tô đáp: “Có lẽ là một tháng, có lẽ là một năm, có lẽ là mười năm, có lẽ là cả đời.”
Hai Sáu nói: “Ngài muốn làm Hoàng đế à? Làm đại vương trong núi, chơi đùa cùng bọn ta chẳng phải tốt hơn sao, công tử?”
Tam nương hỏi: “Sơn quân có đi cùng không? Cả đời của con người là bảy mươi năm đúng không? Ta phải chuẩn bị thêm nhiều áo bông mới được.”
Thúy Nguyên bấm tay tính toán, cười nói: “Bảy mươi năm cũng không dài đâu, bằng mấy bữa trà nước với A Niên thôi. Hai người cứ thong thả tiêu dao ở trần gian, ta và Tam nương sẽ ở lại trông nhà.”
Đối với chuyện nhân gian, bọn họ cực kì đơn thuần, nhưng Hề Sơn quân biết Phù Tô đang nói về gì. Nàng cho mọi người lui xuống, hỏi: “Công tử đã có dự định riêng?”
Phù Tô hỏi: “Ta từng nghe nói, yêu quái trên đời nếu lừa gạt người phàm sẽ phải chịu hình phạt sét đánh, có thật không?”
Hề sơn quân gật đầu: “Đúng là như vậy.”
Phù Tô khẽ nắm tay nàng, dịu dàng nói: “Vậy ta hỏi phu nhân một câu, nếu nàng trả lời, ta sẽ vĩnh viễn ở lại đây, không đi đâu cả, ở trên núi cùng nàng và con, dạy dỗ tất cả con cháu Hề Sơn? Đến khi ta già rồi chết đi, nàng vẫn trẻ trung như trước thì cứ hãy tìm người khác mà gả, ta không trách nàng, có được không?”
Hề Sơn quân nhìn ngắm khuôn chàng thật kĩ, trong lòng có nỗi đau trước nay chưa từng có. Nàng gượng cười: “Xin công tử cứ hỏi.”
Trong lòng Phù Tô cũng không chịu nổi nữa, hỏi nàng: “Tam nương Kiều phủ, có phải là kiếp trước của phu nhân? Không biết Kiều Thái úy đã dùng biện pháp nào giúp nàng tránh khỏi cái chết.”
Hề Sơn quân đáp: “Nếu ta là Tam nương thì sao? Nếu ta không phải thì thế nào?”
“Nếu nàng không phải Tam nương, thì nàng chẳng qua là kẻ tham tài háo sắc, nàng muốn gì, ta đều có thể tìm tới cho nàng, dỗ nàng vui. Nhưng nếu nàng là Tam nương, lòng có tính toán, sợ sẽ càng nhiều, ta cũng chẳng hay, đến tột cùng nàng muốn ta làm những gì đây.”
Đáy lòng Hề Sơn quân cảm thấy chua xót. Nàng biết giờ phút nàng đây Phù Tô một lòng hướng về mình, thật sự dốc tận tâm can, nếu không, với tính cách lạnh nhạt của chàng với người xung quanh, tuyệt chẳng thể nói được những lời này. Đời này nàng đã phụ chàng nhiều, mà tới ngày hôm nay, cũng chỉ có thể tiếp tục phụ chàng.
Hề Sơn quân nhíu mày, hít sâu một hơi, nước mắt rơi xuống. Phù Tô sững sờ thấy nàng khóc, vẫn chưa biết vì sao thì nàng đã nhào vào lồng ngực chàng, dịu dàng ôm chàng: “Công tử, chàng đối xử với ta như vậy, là muốn gì chứ?”
Phù Tô không đáp, chàng nghĩ đây vốn là bí mật mà mình phải giấu nàng cả đời, nhưng liệu rằng đời này kiếp này còn có ngày gặp lại hay không? Chàng dịu dàng v**t v* lên tóc vợ, như đang dỗ dành một đứa trẻ.
Hề Sơn quân thấp giọng: “Ta chính là Tam nương Kiều Thực, ca ca ta là Kiều quận quân, người bị lưu tiếng xấu ngàn đời.”
Lòng Phù Tô thấy bi thương, hỏi: “Vậy ta là ai, kiếp trước nàng có từng gặp ta?”
Hề Sơn quân khẽ đáp: “Chưa từng, công tử với ta, là người xa lạ. Chúng ta từ hai người xa lạ mà kết mối lương duyên, đi tới ngày hôm nay.”
Sắc mặt Phù Tô lạnh lẽo, chàng đặt môi lên trán vợ, dịu dàng hỏi: “Ta không phải là Mẫn Ngôn à? Kiếp trước ta không phải là Mẫn Ngôn mà nàng căm thù nhất hay sao? Nếu không phải thì vì sao ta lại có thể nhập vào thân Mẫn Ngôn, mơ thấy Tam nương, nhìn thấy kiếp trước của Tam nương chứ? Chuyện tới nước này rồi, chẳng lẽ nàng vẫn còn muốn lừa ta?”
Ánh mắt của Phù Tô như một hồ nước được phơi nắng ấm áp rồi bất ngờ giá lạnh dưới ánh trăng. Dưới vẻ lạnh lẽo là sự tịch lặng: “Chúng ta có duyên kết tóc làm vợ chồng, nếu không yêu ta, thì ắt là hận ta. Nhưng mà nàng, lại chẳng yêu ta.”
Hề Sơn quân ôm Phù Tô thật siết, hỏi: “Công tử muốn nghe lời thật hay giả dối?”
“Nghe nói dối, biết nó là giả, ắt hiểu cái thật.”
“Ta thích chàng mà, Phù Tô, thích vô cùng. Thích chàng hơn bất cứ ai trên đời, hơn cả người đời xưa, người đời nay hay người đời sau, hơn cả người biết chàng, người không biết chàng, người ngưỡng mộ chàng hay yêu thương chàng, – ta đều thích chàng hơn tất thảy.”
Phù Tô cảm thấy lồng ngực đau đến mức máu thịt nát tan, thê tử của chàng đã đâm chàng nhất này đến nhát khác lên người chàng. Chàng cứ tưởng rằng lời nói dối sẽ không tổn thương, nhưng vào khoảnh khắc này, chàng thà rằng nàng hãy nói thật. Bởi vì lời nói đi tới trái tim, từng câu được đổi thành lời thật sẽ thành: — Ta hận chàng hơn bất kỳ ai trên đời, hơn cả người đời xưa, người đời nay hay người đời sau, hơn cả người biết chàng, người không biết chàng, người căm ghét chàng, người oán hận chàng, ta đều hận chàng hơn tất thảy.
Cổ họng Phù Tô nghẹn ngào, cảm xúc dồn nén, chàng hỏi: “Nàng ép ta đi tới hôm nay, ta vẫn luôn suy nghĩ, cớ sao nàng lại đối xử với ta như thế? Mỗi bước nàng đi đều có mục đích, từ lúc cứu ta tới Hề Sơn, khi Quý Duệ khuếch trương kỵ binh chạy trốn, đến cả ly gián ta và Chương tam đệ, đoạt lại âm binh lệnh phù, rồi tiện đà lấy được gia sản Tạ hầu. Từng chuyện, từng việc đều có bóng dáng của nàng, đều có những quân cờ mà nàng đã đánh xuống. Nàng toàn lực giúp ta thu phục Quý Duệ, Hoàng Vận đích thực, đến Yến nhị đệ, chẳng qua để triệu tập Tam công, mưu đoạt thiên hạ. Nay trên tay Quý Duệ có hơn hai mươi vạn đại quân, âm binh cũng tới mười vạn, gia tài Tạ hầu đảm bảo quân nhu lương thảo dư dả. Thiên thời địa lợi nhân hòa, quân binh, tướng lĩnh, tể tướng, tài vật, tất cả đều có đủ, chỉ thiếu mỗi Cô, kẻ mang họ Thành nhưng không có chí Thiên tử. Nàng đã hao tốn tâm tư, để ta tự mình nếm trải bi thương của trần thế, cũng chỉ vì muốn giễu cợt ta, nói ra biết rằng, toàn bộ người Đại Chiêu đều một lòng muốn ta chết, phụ hoàng ta, huynh đệ, con dân, ngay cả nữ tử ta từng yêu đều như vậy. Ta thật sự là một kẻ cô độc, sớm không còn đường lui, ngoại trừ đánh bại phụ hoàng, thay thế ông ta, đứng tế bái trời cao non núi.”
Hề Sơn quân lùi ra sau một bước, chàng lại bước tới, ôm nàng vào lòng. Chàng và nàng đều mặc quần áo mỏng manh, đứng trong một hang đá đơn sơ. Vào ngày đông chàng sẽ ôm chặt vợ mình, ôm thế này, khi đến hạ chàng cũng ôm chặt vợ mình, ôm thế này. Nàng là người vợ tào khang của chàng, là người con gái đã nép mình ở vòng tay chàng từ lúc còn niên thiếu. Nàng từng là quân chủ thiên biến vạn hóa của một ngọn núi, ra sức vùng vẫy, còn chàng từ một thiếu niên đến khi trưởng thành, luôn ngờ vực nhìn nàng vùng vẫy. Nàng muốn làm gì đây, đã nhiều năm như vậy, người vợ kì quái này muốn làm gì đây? Phù Tô luôn nghĩ về chuyện này, rốt cuộc tới ngày hôm nay cũng nghĩ ra đáp án. Chàng cứ nghĩ rồi nghĩ, sau đó dịu dàng nói: “Trước nay nàng nhìn xa trông rộng, còn biết bấm độn, thì ra ta chỉ là món đồ chơi của phu nhân, tập tễnh từng bước đi theo sắp xếp của nàng. Ta nghĩ, chắc hẳn kiếp trước ta đã từng hại nàng, mới khiến nàng đối xử với ta thế này. Nàng lợi dụng ta đi tới ngày hôm nay, chẳng qua vì một mai ta làm chủ thiên hạ, sẽ giúp nàng rửa sạch oan khuất của Kiều quận quân.”
Nàng nở nụ cười ngấn lệ, thở một hơi thật dài, sau đó giơ tay áo dụi nước mắt, đáp: “Đúng. Ngươi là Mẫn Ngôn, ta tra tấn ngươi như vậy đều vì ngươi là Mẫn Ngôn đã hại chết ca ca ta. Nếu một mai công tử làm chủ thiên hạ, chớ quên những lời đã nói ngày hôm nay, thay ca ca ta rửa sạch oan khuất suốt ba trăm năm qua.”
Chàng lại ôm đầu nàng vào lòng, thủ thỉ: “Ta cũng đối xử với nàng không tốt. Ta thường đối nghịch với nàng. Thuở mười lăm mười sáu ta dè dặt lấy lòng nàng, chỉ sợ nàng không để ý sẽ nuốt chửng mình. Ta sống chật vật từng ngày, chỉ vì muốn thoát khỏi nàng. Đến năm mười bảy mười tám, khi đã hiểu chút sự đời thì lại thích cô nương nhà khác, chỉ mong thoát khỏi nàng. Thế rồi, lúc nàng gả cho ta, ta đã thật sự vui sướng, thật sự nghĩ rằng từ nay về sau, dù giá rét hay nóng bức, dù đi bất cứ đâu, ta đều sẽ mang nàng theo. Làm hoàng đế, chúng ta sẽ ở bên nhau, làm ăn mày, ta cũng sẽ cõng nàng trên lưng. Chúng ta sẽ cùng đi khắp núi cao sông rộng, vì phong cảnh trên đời nào sinh ra cho đế vương, mà cho những đôi thần tiên quyến lữ.”
Chàng bỗng rơi lệ, dùng tình yêu nồng nàn bao bọc Hề Sơn quân, chàng nói: “Chỉ là A Thực ơi, ta không thể tiếp tục đối xử với nàng như vậy được nữa rồi.”
Chàng nói: “Bởi vì, ta thích A Thực, thích vô cùng. Thích nàng hơn bất cứ ai trên đời, hơn cả người đời xưa, người đời nay hay người đời sau, hơn cả người biết nàng, người không biết nàng, người ngưỡng mộ nàng hay yêu thương nàng, – ta đều thích nàng hơn tất thảy.”
Chàng lại chỉ lên trời mà nói: “Nàng từng bảo, nếu lừa người, làm hại người phàm sẽ bị sét đánh. Nhìn xem, trời không đánh chết nàng, nghĩa là nàng trong sạch. Thế nên A Thực à, những điều nàng nói với ta đều là sự thật. Nàng đã dỗ dành, lừa gạt ta bao lâu rồi?”
Chàng buông lỏng vòng tay đang ôm chặt, gió lớn nổi lên, tóc đen bay loạn. Chàng xé một mảnh vải trắng trên áo mình, để gió mang tới trước mặt Hề Sơn quân: “Ta và A Thực đoạn tuyệt từ đây. Từ nay về sau, như tấm vải trắng này, không còn tương tư.”
Khi Phù Tô rời đi, Hề Sơn quân để con cháu đã thành niên của Thúy thị hộ tống chàng. Tính ra cũng hơn trăm người, ai cũng tài hoa xuất chúng, mỗi người một vẻ. Nàng bảo: “Dưới núi cũng có một cõi hồng trần. Ta vốn chẳng nên trói buộc các con ở đây, nếu ai có chí lập công danh, hãy theo công tử, từ nay coi công tử là chủ. Còn vợ con cha mẹ của các con, ta sẽ bảo vệ thay các con.”
Các thiếu niên áo xanh đều đồng loạt quỳ xuống, dập đầu cảm tạ nàng. Nàng rút cây trâm trên tóc xuống, gõ nhịp mà hát: “Ta có con ngoan, chẳng cầu danh núi, ta có con ngoan, chẳng cầu gấm hoa; Từng chịu đắng cay, trải qua gian khổ, hiếu nghĩa minh đức, tiếng thơm vang xa. Ta có con ngoan, cầu chi kiếp khác.”
(Lời tác giả: Đoạn “Ta có con ngoan… cầu chi kiếp khác” phỏng theo bài hát của Phiên Phiên trong Liêu Trai Chí Dị: “Ta có con ngoan, chẳng thèm quan sang. Ta có dâu hiền, chẳng thèm gấm hoa. Đêm nay sum họp, hãy cùng vui vẻ. Vì chàng rót rượu, khuyên chàng thêm cơm.”)
Từ đó họ bước vào hồng trần, rời chốn hoang vu mục nát.
***
Ngày đầu tiên khi nàng mặc áo hỷ tới đây, một gốc cây và một con rắn đã từng hỏi nàng: “Ngươi từ đâu tới?”
Khi ấy nàng ngồi xổm xuống, đáp: “Ta từ nhân gian, nơi có một người.”
Nay cây và rắn thấy nàng trở về, cô độc một mình, lại hỏi: “Người ấy của muội đâu rồi?”
Hề Sơn quân đáp: “Chàng bỏ ta rồi, vĩnh viễn không quay lại nữa.”
Và ngày hôm nay, cây lại hỏi: “Muội đã đợi được kết cục của mình rồi sao?”
Hề Sơn quân khẽ gật đầu, lần này nàng không cười. Nàng dựa vào thân cây, ngồi khoanh chân, lấy bình hầu nhi tửu ra, uống ừng ực từng ngụm lớn, nàng nói: “Ta sống ba trăm năm qua, chỉ chờ tới hôm nay. Trăm năm đầu, tàn sát ăn thịt người, đối nghịch với trời; Trăm năm sau, sét đánh muôn lần, mài mòn chí khí; Trăm năm cuối, tính mưu đặt kế, trắng đen lẫn lộn. Một đời này của ta, sao mà dài đằng đẵng.”
Rắn hỏi: “Muội, hối hận không?”
Hề Sơn quân đáp: “Hối.”
“Hối vì điều gì?”
“Sống tới ngày này rồi, vẫn còn bị vây khốn trong luân thường nhân thế.” Nàng bật cười ha hả, khẽ siết lòng bàn tay, bình hầu nhi tửu lập tức vỡ tan thành bụi.
Vọng Tuế Mộc huơ nhành cây của mình, nói: “Không thoát tục cũng là bản tính của lũ người các ngươi – xương thìmềm mà đầu thì cứng.”
“Nhưng dù là vậy, sao ta có thể không cần đứa nghiệt tử trong bụng này?” Hề Sơn quân thở dài một hơi, nhẹ nhàng đặt bàn tay lên chiếc bụng đang nhô lên.
Lá trên Vọng tuế mộc rơi xuống xào xạc, trời đã cuối thu, lão nói: “Muội à, ta mệt rồi, không gắng gượng nổi nữa.”
Hề Sơn quân ôm lấy thân cây kia, khẽ nhắm mắt, hồi lâu sau mới rơi nước mắt mà rằng: “Cầu huynh thương xót, cho đứa con này của ta một con đường sống.”
“Nó không phải người, cũng chẳng phải yêu, sinh ra làm gì?” Rắn rít lên.
“Nhưng đó là con của phu quân ta.” Yêu quái tự giễu.
“Ngày sau chắc chắn phu quân muội sẽ có ái thiếp con cưng, không cần muội bận lòng,” Cây nói thẳng, “Ta đã sống vạn năm, thọ mệnh đã tận, chỉ còn hai ba ngày nữa thôi. Nếu muội đã nhất định muốn sinh nó, chỉ có thể sinh sớm. Nó đã gần tám tháng, không chừng có đường sống.”
Rắn nói: “Hai ngày này ta sẽ che chở cho muội khỏi quấy nhiễu trần thế, muội chỉ cần lo sinh con.”
Hề Sơn quân vận dụng pháp lực, Vọng tuế dùng thân cây và cành để tạo ra một phòng sinh tự nhiên cho nàng, lão rắn độc Tam giác cuộn người, trườn quanh để bảo vệ từ tám hướng.
Đến trưa, lửa lớn bốc lên, thiêu rụi cả núi.
Khỉ con trên núi gào thét thảm thiết. Trong phòng sinh, ánh đỏ đang sáng rực, nghe tiếng kêu thảm thiết, nháy mắt trở nên yếu ớt, người trong phòng cũng bật tiếng kêu đau đớn.
Nàng ôm bụng, hỏi cây: “Huynh, bên ngoài đang xảy ra chuyện gì?”
Cây lắc đầu, nhìn đống hỗn độn trước mắt, lại lắc đầu, im lặng không nói.
Mặt Hề Sơn quân đầy mồ hôi, cố sức đẩy thân cây trước mặt mà vẫn không thể lay chuyển, nàng gào thảm thiết: “Huynh, thả ta ra ngoài, ta nghe thấy tiếng ba trăm đứa con của ta đang kêu cứu ngoài kia.”
Lão tam giác nói: “Ngoài kia lửa cháy ngút trời, dường như có người cố tình phóng hoả. Ta thấy trên trời có pháp khí hình vòm đang phủ lên, hẳn là Thúy Nguyên và Tam nương đang cùng hợp lực để bảo vệ con cháu họ rồi, muội cứ yên tâm sinh con, trụ khí này vẫn còn trụ được thêm một chút.”
Bụng Hề Sơn quân lại đau quặn một chặp, nàng hét to, nghiến răng oán hận: “Đến tột cùng là kẻ thù phương nào, sao lại đuổi cùng giết tuyệt con cháu của ta? Thù này không báo, sao ta có thể cam tâm!”
Hề Sơn quân lại tiếp tục vận pháp lên bụng của mình, đứa bé trong bụng có vẻ như bị kinh động, giãy giụa dữ dội hơn.
Trên núi Hề Sơn lửa cháy hừng hực, dưới núi Hề Sơn hàng ngàn quân sĩ.
Kẻ đầu lĩnh là một tướng quân thiếu niên trong bộ tảo y, hắn vừa ra lệnh, hơn một ngàn nỏ lửa lập tức nhắm thẳng vào ngọn núi khô cằn.
Nơi đây từng là chốn dung thân của Thái tử Thành Anh, cũng là nơi người con gái hắn yêu cư ngụ. Để rồi từ nay về sau, mọi ân oán tình thù sẽ đều hoá thành tro.
Hắn cười to đầy khoái trá, khuôn mặt như bạch ngọc nhìn lên ngọn núi xa. Kiếp này hắn mang theo ký ức, nhưng chỉ là kiếp đầu tiên của ba trăm năm trước. Lần đầu tiên khi xuống địa ngục, có mấy người liên tục than khổ, thán rằng làm người khổ lắm, rồi bưng bát canh uống cạn. Nước canh qua cổ họng, nóng bỏng thiêu đốt mọi thứ, cái nhìn đầu tiên hay lúc vĩnh biệt đều tan biến. Canh tới ruột gan, chảy quanh co khúc khuỷu, yêu thương hay nguyên cớ, nghiệp chướng lẫn hận thù của nửa đời người đều tiêu tan. Canh vào tim phổi, chao đảo bồng bềnh, khiến ngươi quên mất nàng, chút ánh sáng cuối cùng cũng chìm theo vào sông núi.
Hắn ngồi nhìn bát canh còn bốc khói, đưa lên rồi lại khẽ đặt xuống. Đời người, chẳng ai biết mình sẽ sống thế nào, nhưng thật ra, cũng chẳng ai có thể thành kẻ lãng du, nửa đời tiêu dao. Hắn hỏi hắc y sứ giả dẫn đường rằng bao giờ mới có thể gặp được người mình muốn gặp, hắc y sứ giả hỏi, Đợi được không? Hắn tự hỏi, liệu mình có thể chờ được chăng.
Có thể chứ, có thể chờ được. Hắn nghĩ mình phải chờ được, và hắn đã thật sự chờ được, hắn đã chờ suốt ba trăm năm. Từ ngày nàng đi, đã tuyên bản án hắn phải chịu. Chờ nàng, chính là sự trừng phạt.
Cuối cùng hắn cũng lấy lại ký ức, cũng có chút xíu duyên phận mong manh cùng nàng, chỉ là không thể cùng đứng dưới trăng, dưới mái đình bóng liễu rủ, trò chuyện đôi lời. Hắn muốn được kiên nhẫn nghe người con gái mình yêu nói nói cười cười, nếu nàng có gì vướng mắc, hắn sẽ nhẹ nhàng khuyên nhủ; nếu nàng vui vẻ, hắn cũng vì thế mà cười tươi hơn một chút; Còn nếu lần đầu gặp nhau khiến nàng thấy xấu hổ thẹn thùng, hắn sẽ nói hết những lời muốn nói của cả đời này, để nàng cảm thấy đây là một người vui vẻ sảng khoái, tràn đầy tinh lực với lòng kiên nhẫn như dòng nước mãi không cạn vơi.
Chỉ cần nàng, nhất định, nhất định không có ký ức của kiếp đầu tiên ấy.
Chỉ cần nàng, đã quên hắn là ai.
Hắn vội vàng đến, nàng vội vã rời đi. Hắn đến với kiếp này để tiêu trừ chấp niệm. Thế nhưng nếu nàng không chịu quên hắn là ai, khi tìm được nàng, hắn sẽ triệt để g**t ch*t nàng.
Cuộc đời vốn như một ván cờ. Nếu đã thua, thì cũng không để đối thủ thắng. Thành toàn cho người khác chẳng có ý nghĩa gì cả, thành toàn chỉ khiến hận ý sinh sôi, yêu chính bản thân mới là ý nghĩa của việc sống, vì phải hoá tro tàn, mới có lối nhỏ đi qua đồng, mây trắng bay ngang đồi.
Viên minh châu của Đại Chiêu vốn xinh đẹp vô ngần, mang theo trăm phương nghìn kế, sách lược lẫn âm mưu, vừa quát gọi nội thị tuỳ thân chỉnh lại viên ngọc trên chóp mũ quan, hắn khẽ cúi đầu, mỉm cười rơi lệ.
Khi ngẩng đầu lên, tầm mắt trải ra vạn dặm.
Chỉ là hắn vẫn không kịp nhìn nàng thật rõ, thật kĩ một lần.
Đã nửa ngày trôi qua, Thuý Nguyên và Tam nương đã sức cùng lực kiệt. Ngọn lửa vẫn tiếp tục xâm chiếm Hề Sơn, lũ khỉ con nháo nhác chạy trốn, hoảng loạn xuống núi thì bị đám lính mai phục bắn chết.
Hề Sơn quân khó sinh, chảy rất nhiều máu.
Ngọn lửa đã dần lan tới vách núi cô độc kia, Vọng tuế mỉm cười nhìn, để ngọn lửa tuỳ ý cắn nuốt cành lá mình.
Lão nói: “Muội à, đây là tử kiếp, chấp nhận đi.”
Lão Tam giác ủ rũ cúi đầu một cách suy sụp, lão nói: “Sống trên vạn năm rồi, vậy mà vẫn thấy chưa đủ.”
Trên cái áo tang của Hề Sơn quân toàn là máu. Nàng yếu ớt nhìn làn khói đang tràn vào phòng sinh. Lửa đã đến rồi, cứ vậy mà đến.
Tam nương loạng choạng chạy tới, ôm chặt lấy thân cây đại thụ, quần áo chị cũng đã cháy đen cả mảng.
Rất lâu trước đây, lúc viên noãn ngọc vừa mới hoá thành người, từng nói: “Huyết lệ của Tam nương nuôi tưới ta, cho ta huyết mạch, từ nay về sau, ta sẽ mặc chiếc váy vàng mà Tam nương thích nhất, trở thành Tam nương.”
Hề Sơn quân cười, hỏi lại: “Vậy ta thành ai?”
Hoàng y nữ tử cười theo, “Tam nương thành Quận quân đó. Tam nương nhớ ai thì thành người đó. Ta làm theo ý nguyện của chủ công ở lại bên cạnh Tam nướng, đã sớm thầm thề rằng sẽ chăm sóc Tam nương, cho Tam nương một mái nhà yên ấm, hai mươi năm sau, không, ba mươi năm sau, khi nhà chúng ta đông con đông cháu, sẽ không có ai dám ức h**p Tam nương nữa.”
Lúc này, hoàng y nữ tử xoay người ngơ ngác nhìn lũ khỉ con lông xanh kêu khóc thảm thiết khắp núi đầu, nhìn ngọn núi chìm trong biển lửa, chị nhìn rất lâu, sau đó lặng lẽ quay đi, ôm thân cây, thúc giục chút pháp lực cuối cùng để tạo thành một mái vòng che chắn, nỉ non: “Đừng sợ, Tam nương ơi, không sao đâu, Tam nương.”
Khoé miệng Thuý y nam tử vẫn còn vương vết máu đứng sau lưng chị. Nam tử lặng im nhìn vợ mình, y nhìn lưng chị, nhẹ giọng nói: “A Nhị chết bên bờ suối, A Tam ôm cây cho đến khi cháy đen, Ba Sáu đã bị xà nhà đè chết, trước khi Hai Sáu chết, lông tơ trên người còn chưa mọc hết đã rụng sạch, nó cuộn thân thể bé nhỏ, khóc gọi ‘mẹ ơi’, đến khi lửa thiêu đến hoá thành tro.”
Bóng lưng Tam nương cứng đờ, hình như Hề Sơn quân trong thân cây có nghe thấy, kêu một tiếng thảm thiết, tiếng khóc xé hết ruột gan.
Thuý Nguyệt bật cười ha hả, giơ hai tay lên, thất thểu bước tới, “Nhìn xem thê tử của ta này, không để ý chút nào. Nàng sống lâu như thế, sinh nhiều con như vậy, cũng chẳng nhớ nổi tên hay bộ dáng tụi nó thế nào. Nàng sinh tụi nó chỉ để Hề Sơn quân sai khiến, coi chúng nó là lũ hầu ti tiện nhất, đúng không?”
“Vì nghèo đói, lũ trẻ chưa từng được một bữa ăn no, nhưng chúng cũng chưa từng trách cứ người làm cha mẹ như chúng ta. Ngày nào tụi nó cũng cười, ngay cả đứa nhỏ nhất, Hai Sáu cũng vậy. Hôm nay nàng đột nhiên thu hồi phép thuật chỉ để cứu Hề Sơn quân, bọn chúng có chết thì nàng vẫn có thể lợi dụng ta để sinh lũ người hầu khác, còn Hề Sơn quân thì chỉ có một, đúng hay không?”
Bóng lưng Tam nương cứng cỏi quật cường, mím chặt môi, nước mắt ràn rụa nhưng vẫn không phát ra bất kì tiếng động. Chị đứng đưa lưng về phía chồng mình, nghe những lời tàn nhẫn nhất từ y.
“Thần tu tự nhiên đạo, không can thiệp luân hồi. Trước nay không ngộ đạo, là do ta ngu ngốc.” Thuý Nguyên cười nhạt, “Vì kẻ hư tình giả ý như nàng, vì muốn ngàn đời bên nhau, ta tự làm ô uế bản thân, nguỵ tạo tình sự, dan díu với người trong luân hồi, nhẫn tâm chặt đứt công đức sắp viên mãn. Vậy mà nàng báo đáp ta thế này sao?”
Ngọn lửa từ từ lan tới chân thuý y nam tử, trên trời lại xuất hiện vầng mây sáng rỡ. Trong mắt y nay đã vô tình vô dục, chỉ còn một nỗi bi ai. Y đứng trong gió, cuồng phong thổi tung tay áo màu xanh biếc. Y rằng: “Nếu đã như vậy, Tam nương, đừng quay đầu lại. Duyên phu thê của chúng ta đã tận, nàng đừng quay đầu nhìn ta, ta cũng sẽ không nhìn nàng nữa. Ta vào tiên đạo, nàng vào luân hồi. Nàng và ta, sẽ không bao giờ gặp lại, cũng không còn ngày quay đầu.”
Dưới mũi chân y từ từ có mây tụ, đôi mắt nhẹ nhàng khẽ khép. Tam nương vẫn chưa từng quay đầu lại, lấy tay bịt miệng, nước mắt ràn rụa.
Chàng thiếu niên từng ngẩng đầu ngắm sao trời, mỉm cười ngạo nghễ, từ nay rời xa.
Y đã trải qua vạn năm, cuối cùng cũng phi thăng.
Máu, rất nhiều máu.
Từ đâu rơi xuống, thấm lớp đất khô cháy.
Hai bàn tay đẫm máu run rẩy, nâng đứa bé mới sinh lên.
Tam nương khóc thảm thiết, ôm chặt đứa bé yếu ớt.
Y phục dính máu dơ dáy, có một nữ tử dùng hết sức lực bò ra khỏi gốc cây.
Thân thể nàng tê dại trống rỗng, là nữ tử ác độc nhất đời này.
Máu trên người nàng nhuộm đỏ lá khô dưới đất.
Nàng đưa mắt nhìn lên trời cao, đối diện cùng nó.
Nàng rằng: “Thuở bé, ta từng cầu xin ngươi rủ lòng thương xót. Sau này lớn lên, ta không cầu xin gì nữa, vì ta đã hiểu rằng dẫu có cầu xin cũng vô ích. Cầu xin chỉ khiến ngươi chế giễu, khinh rẻ ta, cầu xin ngươi chỉ khiến ngươi biết điểm yếu của ta, biết ta quan tâm điều gì.”
“Khi các con ta còn nhỏ, nắm tay chúng, đứng giữa đất trời trống trải cúi lạy ngươi. Ta cầu xin ngươi che chở chúng lớn lên bình an, đừng giống ca ca ta, cũng… đừng giống ta. Ta cầu xin ngươi ban chúng một trái tim vui vẻ và dũng cảm, để dù có bị vận mệnh trêu ngươi thế nào cũng sẽ không mất hi vọng. Những điều ta muốn không có nhiều, thật sự là không nhiều đâu.”
Nàng cười tự giễu, hồi lâu sau, máu đỏ lại rỉ qua từ khoé môi. Nàng nằm ngửa trên mảnh đất cháy khô cằn, khói dày đặc, cười lớn ha hả đến khi tóc khô rụng đầy đất. Nàng nói: “Phải, ta thua rồi, ngươi thắng. Ta không đánh lại vận mệnh, ta lấy nhân trí, vọng tưởng đấu trời. Nhưng mà, dẫu thế thì sao? Vậy thì có thể làm gì! Ngươi có thể khiến ta khuất phục sao? Ngươi dựa vào gì mà khiến ta phải khuất phục?”
Nàng duỗi hai tay, bứt cỏ khô hai bên người, siết chặt, nhắm mắt thì thầm gì không ai rõ. Hồi lâu sau, khoé mắt nàng như có dòng suối nhỏ, chầm chậm chảy ra. Giống như không thở được, cổ họng nàng nghẹn uất, lồng ngựa phập phồng, chẳng biết phải qua bao lâu, tới khi cả thế giới chìm vào tĩnh lặng, nàng mới bật khóc thành tiếng thê lương.
Trong nháy mắt, những ngọn cỏ kia như vừa được hồi sinh, từng mảnh cỏ từng tấc đất bỗng khôi phục sắc xanh. Vọng Tuế Mộc tàn úa nhanh chóng, lão nhìn Hề Sơn quân, khoé môi vẫn còn vương lại nụ cười thanh thản nhàn nhạt, ánh mắt già nua dần khép lại.
Cây đổ cành gãy đứng lên lại, quýt trên núi đã cháy khô dần trở nên xanh tươi, mây nước trôi ngang liên tục, thời gian đang lùi lại hay chạy nhanh hơn? Ngọn núi đang dần biến thành đồng bằng, những xác cháy khô cứng từ từ hoá thành những hòn đá xanh vàng.
Trong bụi cây, có một con khỉ nhỏ đang run rẩy, toàn thân cháy đen, nhìn về hướng Vọng tuế mộc. Đứa bé sơ sinh hình như cũng cảm giác được điều gì đó, hai mắt không mở ra được nhưng vẫn trào nước, khóc ư ử. Tam nương mặc váy vàng quỳ sụp trên đất, con khỉ con ngơ ngác nhìn, cất tiếng gọi thê lương – Quân phụ!
***
Mùa xuân năm Tề Minh thứ mười tám, đã định sẽ không được yên bình. Đất Trịnh vốn đang trong thế giằng co giữa hai phe, sau những trận chém giết liên miên, cứ như vì đã nhuộm đỏ máu tươi của dân chúng mà trở thành mối thù không đội trời chung của các nước. Chư hầu giằng co, trong hỗn loạn u ám, nhưng chưa hề từng quên mục đích ban đầu của cuộc chiến này.
Thiên hạ, Bách quốc, Đại Chiêu,
Đẹp quá! Hùng tráng quá!
Vương tử may mắn quá!
Chẳng mấy ai để tâm tới Thiên tử ở nơi xa xôi. Dòng đích đã đã suy yếu từ lâu, trong khi lịch sử vẫn đang chờ đợi có một anh hùng tuyệt thế sẽ mở ra cánh cửa mới.
Trịnh vương muốn trở thành kẻ đó, Mục vương cũng muốn.
Các chư hầu phụ thuộc đều khuất phục dưới trướng các đại chư hầu, lặng lẽ chờ thời cơ.
Ấy thế mà chiến trường ấy lại bị hai kẻ làm rối loạn.
Một là Thành Vân, đích trưởng tử của Trịnh vương, được sử sách đời sau viết về như một nghịch tử tuyệt thế kinh luân, người đời gọi là Tiểu Trịnh vương. Hai là một công tử thiếu niên mặc áo trắng, tay xanh, cờ chiến đen tuyền, không có chữ hiệu. Để tiện gọi tên, người đời đặt danh xưng cho chàng là Canh Thuỷ (更始) (*nghĩa đen là Khởi đầu)
Cả hai đều nhắm vào phe Trịnh Vương, nhưng đồng thời cũng để lại mười vạn binh mã đối đầu với Mục vương. Hành động đi đi lại lại này khiến tất cả mọi người đều hoang mang.
Rốt cuộc là bày binh bố trận kiểu gì?
Khởi nghĩa nông dân? Thế gia tạo phản? Người trời hiện thế?
Thuyết thư (* người kể truyện) trên khắp Bách quốc đều xôn xao cả lên, xăn tay áo, phun nước miếng lung tung.
“Nghe kể rằng kẻ dẫn đầu là một hảo hán. Xem hắn kìa, một tay cầm thương dài một trượng hai, thân cao tám thước, da ngăm đen, giữa trán còn mọc một con mắt lúc nào cũng nhắm nghiền, thế nhưng mỗi khi nổi giận thì con mắt ấy mở to như hạt mơ, trừng ai người ấy chết! Vị tiểu anh hùng đó, nhổ nước bọt vào tiên phong của Trịnh vương: ‘Hừ! Thằng nhãi nhép có biết ông tổ của ngươi là ai không?’ Viên tiên phong sững người, chưa kịp nói tiếng nào thì chỉ thấy hán tử cầm thương phi ngựa, như một tia chớp, chưa ai kịp nhìn rõ mặt, còn đỉnh đầu viên tiên phong đang run lẩy bẩy đã phải chịu một tia sét trắng bổ xuống. Mọi người đều cả kinh, tới khi nhìn kĩ lại thì mới phát hiện viên tiên phong đang sống sờ sờ đó bị người trừng mắt xẻ đôi thành hai nửa! Ây da, mọi người như chết cha chết mẹ, bỏ chạy trối chết, lại nghe thiếu niên anh hùng kia lạnh lẽo mà rằng: “Ta là Quý Duệ, kẻ mà nghịch tặc Trịnh vương đuổi cùng giết tuyệt sáu năm trước! Các ngươi về mà nói với Trịnh vương rằng, từ nay về sau, chiến trường không có cha con!”
“Thì ra đúng là cha con, kẻ chống Trịnh tặc lại chính là Tứ công tử biệt tích đã lâu! Hay lắm! Lão vốn đã là kẻ đứng trên người, thế mà tạo phản, rốt cuộc lại có đứa con trai phản cha. Nhìn trời xanh kìa, chưa từng tha cho ai!”
“Người kể chuyện này, hắn không phải Dương Tiễn, sao lại có ba mắt được? Bịa chuyện cũng phải chừng mực chứ!”
“Thôi đi ngài ơi, thích thì nghe, không thì thôi! Lại kể tiếp, vào một ngày tháng tư, thế tử Trịnh vương đứng ngoài thành Quảng Lương quát tháo hồi lâu, trong thành vẫn lặng ngắt, không ai ứng chiến. Một lúc sau, trên đài lửa hiệu tít ở cao lại từ vang một điệu nhạc chẳng ai biết tên. Điệu nhạc đó chưa ai từng nghe qua, thế nhưng đều thấy trong lòng êm ả ngọt lành, kì diệu khôn tả. Có lúc khiến lòng họ tĩnh lặng như lạc vào cõi trời đất tự nhiên, lúc lại vui sướng kích động đến nỗi suýt rơi lệ, cho dù có là tiên nhân tấu nhạc thì cũng đến thế là cùng. Khúc nhạc ấy vừa vang độ một tuần trà (*khoảng độ 10-15 phút), không biết ai là người đầu tiên nói: ‘Dẹp! Dẹp! Dẹp! Mọi việc đều dẹp hết đi! Chúng ta tranh cái gì chứ, ngươi thấy bộ dạng ta dáng ghét, ta nhìn ngươi chẳng bằng một nắm đất vàng.’ Thế là các tướng sĩ đều vứt bỏ áo giáp, thất hồn lạc phách, quay đầu bỏ đi, để lại một dải đất bao la, trời mênh mang, đất cũng mênh mang. Thế tử Trịnh vương giận đùng đùng, lệnh cho mọi người lấy gòn nhét vào tai, thế nhưng khúc nhạc ấy vẫn văng vẳng không dứt. Chúng tướng sĩ đều mất ý chí chiến đấu, trận này, quân Vương thắng quá đẹp. Chúng tướng sĩ Trịnh vương tháo chạy đi rồi, ngươi biết sao nữa không?”
“Sao nữa?”
“Trên đài lửa hiệu đó, có một vị công tử xuất chúng ôm đàn thong thả bước ra, ngài mặc áo trắng tay rộng, cả người đều trắng thuần, chỉ riêng dải đường diềm tay áo thêu xanh, mi mày chàng rạng rỡ, sánh ngang nhật nguyệt. Sau lưng chàng là hai thiếu niên khác, dung mạo khí độ cũng tuyệt vời, một người mặc đồ trắng ngà, kẻ còn lại mặc đồ đen. Cả ba đều an tĩnh nhìn xuống non sông Đại Chiêu chúng ta dưới chân thành, không nói chẳng rằng, sau đó lặng lẽ rời đi, biến mất ngay tại chỗ đó. Sau này, nghe một người bà con xa trong quân kể lại, lão đây mới biết, đó chính là Canh Thuỷ vương, tay nắm trọng binh, bảo vệ Đại Chiêu ta. Lại nói phe kia, quân của thế tử Trịnh vương chật vật chạy về doanh trướng, mới phát hiện quân lệnh ấn tín đã không cánh mà bay, chỉ thấy thấp thoáng góc áo màu xanh ngọc bích, chẳng biết là thần hay quỷ. Ta nghe kể tộc người bên vợ của Canh Thuỷ vương thích mặc áo xanh ngọc bích, khoảng hơn trăm người, làm thân vệ cho Vương, đều có dị năng, mỹ mạo phi thường. Không biết phải họ hay chăng.”
“Xuỳ, Canh Thuỷ vương gì chứ, ta lại nghe nói đó là con riêng của vị kia và tình cũ đấy. Thái tử đã chết, Tam hoàng tử tàn bạo, không gánh nổi trọng trách, nên là vị kia nảy sinh tâm tư khác. Chứ không sao lại có thể chấp nhận để một tiểu tử từ trên trời rơi xuống, tay nắm trọng binh, cấu kết bè lũ với Quý Duệ? Nói dễ nghe là vì nước vì dân, chứ nói khó nghe một chút là nằm gối trên giáo, đợi chờ trời sáng, chuẩn bị tạo phản thì có!”
“Ôi trời, vậy là huynh đài không biết rồi, nhà ta có người quen làm việc ở hoàng đô, trong hoàng đô vẫn luôn đồn nhau rằng Thái tử Anh vẫn chưa chết đâu, trong Định lăng chỉ có quan tài của Hoàng hậu mà thôi. Trong lòng đám người thủ lăng đều biết rõ như gương, kể rằng có một con chim lớn từ phương nam bay tới, cứu Thái tử Anh đi rồi.”
“Vậy Canh Thuỷ vương… không lẽ là… không lẽ là…”
“Suỵt, cấm nói. Chỉ là nghe cho vui thôi. Mà nói đi cũng nói lại, lão thuyết thư kia, ông có thấy ai gảy đàn mà lừa gạt khiến cả đám người bỏ đi chưa? Lần sau có bịa thì nghĩ cho kĩ càng rồi hẵng bịa.”
***
Vào cuối năm thứ mười tám, cơ bản chiến cuộc đã được định. Trịnh vương thua chạy, sau đó bị thế tử Mục vương bắn chết ở Lộc sơn. Trịnh vương thế tử cùng các công tử khác đều bị bắt giam, chờ Thiên tử xử quyết.
Tất cả mọi người đều thấm thỏm chờ đợi ý chỉ Thiên tử, thế nhưng không phải là chờ tưởng thưởng của trận chiến này, lòng mỗi người đều có ý đồ riêng.
Không phụ sự mong đợi của mọi người, hơn một tháng sau, ngài liên tiếp hạ chỉ phong thưởng cho Mục vương, Bình vương và các vị vương tử khác, lại còn truy phong Giang Nam hầu làm ‘Quan Dũng bá’, được phép đời đời thừa tước, không bị giáng cấp.
Đến khi mọi sự đang gió êm bể lặng thì Canh Thuỷ vương và Tiểu Trịnh vương đã chỉnh đốn xong quân ngũ, khi chuẩn bị bắc tiến một cách trật tự chỉnh tề, đạo thánh chỉ mà tất cả mọi người mong ngóng nhất vẫn chưa đến. Điều này khiến cho một số người rối loạn, cũng khiến một số người vui đến loạn, nhất là Thành Giác, kẻ đang bị Thành Vân dùng mười vạn quân áp chế.
Thành Giác lúc ấy cũng thấy rất khó hiểu, “Ta có thể hỏi vì sao không? Vì sao lại nhắm vào ta, còn Bình vương thì không bị gì?”
Thành Vân cũng tỏ vẻ vô tội, sờ mũi mà đáp: “Chủ công nói ngươi xấu bụng, cứ đề phòng một chút cũng không sai.”
Thành Giác: “…”
Tới khi quân của Canh Thuỷ vương nhổ trại, Thế tử Bình vương ôm chặt đùi của chàng, vừa rịn mồ hôi lạnh vừa ràn rụa nước mắt, “Ca, ca ruột, đợi thêm chút nữa đi mà, ca, người mà bước một bước nữa, thần đệ bất minh, là thành tạo phản thật đó! Ca!”
Người nọ cúi đầu liếc nhìn Bình vương thế tử một cái, rồi cứ thế kéo theo vị công tử quý giá đang bám đùi mình, mắt nhìn thẳng không chớp, tiếp tục tiến về phía trước.
Đang kéo lê như thế, sứ giả tới.
Đạo thánh chỉ cuối cùng đã đến.
‘Hiện trời trở lạnh, cha đã mặc áo rét, con ta có không? Cha cố ăn thêm cơm, A Anh có không? Cha dậy sớm ngủ muộn, thương nhớ con ta, Thái tử có không?’
Mọi người đọc xong, thôi được rồi, nên làm gì thì đi làm đi.
Kịch tan, Thái tử đã được xác minh thân phận, là Thiên tử rồi.
Ánh mắt của người ấy như giọt nước trong veo nơi khe núi, thản nhiên nở một nụ cười nhạt mang ý trào phúng, quay về phía vạn người đằng sau mà rằng: “Chúng tướng sĩ nghe lệnh.”
“Không dám trái lời chủ công.”
“Theo lệnh của Cô, quay về Đại Chiêu.”
Trên đường Canh Thuỷ vương trở về hoàng đô, có đi ngang qua một vùng đất hoang dã.
Nơi hoang dã đó có một vùng bình nguyên như tranh, mùa đông không héo úa, trên đồng có một nhà dân, khói bếp bốc rất đượm.
Chàng đang khát khô cả cổ, bèn gõ cửa xin tạm một chén trà. Bên ngoài cửa sổ dán giấy, có một cây hoa đỏ không tên đang nở rực rỡ. Lúc chàng bước đến, cành cây cũng theo gió lay lay về phía chàng.
Chàng khoác áo lông cáo màu trắng, người trong cửa mặc áo đơn màu vàng.
Người mặc áo vàng làm rớt vỡ chén, khiến đứa bé mới sinh còn đang trong bọc tã trên tay giật mình khóc toáng. Có một con khỉ màu xanh ngọc bích đứng cạnh người áo vàng đó không nói một lời, nhận lấy đứa bé, dịu dàng dỗ dành.
Ngoài ra còn có một đứa trẻ mặc áo đỏ từ trong nhà chạy vội ra, tóc hai búi, lông mày xếch ngược, mặt lem nhem như mèo, tay cầm quạt nan đang nhóm lửa, trông sáng sủa đáng yêu.
Người mặc áo vàng kinh ngạc nhìn thanh niên, chàng lại chỉ cười nhẹ, “Cố nhân đừng kinh hãi, ta chỉ xin một chén trà nước, uống xong sẽ đi.”
Người áo vàng khom người nhường lối, cái quạt trong tay đứa trẻ chạm xuống đất, còn đứa bé mới sinh như ngửi thấy khí tức gì đó, dần dần ngưng tiếng nức nở không dứt suốt bao ngày đêm.
Trong nhà đơn sơ, chàng đánh giá sơ qua, rồi cúi mắt rũ mi uống trà. Chàng rất trầm mặc, mãi một lúc sau, đầu ngón tay trắng như tuyết dùng lực nhẹ lên chén trà, khiến lá trà thô thiển dao động, chìm nổi không ngừng.
Khuôn mặt cô gái áo vàng kia tiều tuỵ héo hon, chẳng khác một người đàn bà nhà nông bình thường, đứng nghiêm một bên, ôm đứa bé mới sinh, không mở miệng nói một lời. Bàn pha trà là một khối gỗ thô lâu năm, vỏ ngoài sần sùi, nhưng mặt bàn lại nhẵn bóng, bộ trà cụ thì lại rất tốt, người pha trà là đứa trẻ tên A Trứ. Phù Tô thấy cậu ngoan ngoãn im lặng như vậy thì khẽ vỗ nhẹ lên đầu, ôn tồn hỏi: “Sao hôm nay ít nói vậy? Bình thường ngươi thường ba hoa chích choè, nói mãi không ngừng cơ mà?”
A Trứ buồn bã rủ mày, nói: “Từ hôm nay trở đi, pha trà cho ngài lần này, nói với ngài lời này xong, cả đời này ta cũng sẽ không pha trà với ngài, nói lời nào với ngài nữa.”
“Vì sao?”
“Vì những lời của đời này, ta đã nói hết rồi.”
Trên lớp giấy dán cửa sổ có vài cánh hoa mảnh kẹt ở khe hở, ngày hôm ấy nắng rất đẹp, ngay cả hạt bụi trong không khí cũng được phủ màu vàng rực rỡ. Chàng đứng ngắm cánh hoa trong nắng, lúc xoay người lại, nhìn thấy torng ánh mắt ngây thơ của đứa bé mới sinh kia như có chút ánh sáng, cũng đã nhìn thấy cánh hoa kia, cũng đã nhìn thấy chàng. Bàn tay nhỏ xíu co lại, như muốn níu chàng.
Chàng lặng lẽ nhìn bé con, một lúc sau mới nói một câu không đầu không cuối: “Không giống…”
Chú khỉ con Hai Nhăm bối rối: “Quân phụ phu quân, à không đúng, phải gọi là công tử. Công tử ơi, Bảo nhi ngoan lắm, nếu sau này ngài có cưới phu nhân khác, chớ vì hận quân phụ mà ghét bỏ Bảo nhi. Dù Bảo nhi còn nhỏ nhưng mà con thấy thật ra rất giống công tử mà.”
Nhất thời mọi người trong nhà đều im ắng lạ kì. Rất lâu sau, chàng công tử mới nhàn nhạt nói: “Đương nhiên là nó giống ta, nhưng không giống mẹ nó.”
Chàng lại kiên nhẫn uống một ngụm trà, tựa như đó là thứ nước tiên nên không nỡ nuốt xuống, phải chầm chậm nếm kĩ, nghiền ngẫm mãi mới xong rồi cố sức mới hỏi được thành lời: “Chủ nhân nhà ngươi vẫn tốt chứ?”
Hoàng y nữ tử vừa định đáp thì chàng lại mỉm cười, nhớ tới gì đó, lại bảo: “Thôi bỏ đi, chắc là nàng đang ngao du ở đâu đó, tìm ai để vui vẻ rồi. Hỏi nàng làm gì.”
Thị cúi đầu đáp: “Đúng vậy.”
“Sao Hề sơn lại mất? Con cháu Thuý gia nay đâu cả rồi?”
Lần này Hai Nhăm kính cẩn trả lời: “Bãi bể nương dâu, bỗng một ngày nọ, Hề sơn bị biển lớn cuốn đi mất, các chị dâu cháu chắt gần đây đang say mê tu hành, công tử vạch cỏ biết đâu lại tìm thấy chân thân của họ, đợi thêm vài chục năm nữa sẽ hoá thành người hành tẩu trên trần gian thôi. Mọi sự trên đời đều là thế cả, có hợp có tan, chớ nên bận lòng.”
Chàng công tử nghe xong thì khẽ gật đầu, lại nhấp một ngụm trà nói, “Cố nhân đều bình an, Cô cũng thấy yên lòng. Hề sơn đã bị cuốn đi, e rằng sau này cũng khó tìm lại. Nay Cô trở về đô thành, chắc cũng chẳng có thời gian nhàn hạ ghé thăm nữa, chỉ nhờ ba vị thay Cô nhắn giúp ta một câu…”
“Tới ai?”
“Tới chủ nhân các ngươi.”
“Nhắn lời gì?”
“Cưới gả sau này, chẳng còn dính dáng.”
Hoàng y nữ tử gật đầu ròi nói: “Trước khi chủ nhân đi ngao du cũng có dặn ta như vậy. Đứa bé trong tay đây là được chủ nhân giao phó trước khi đi, có căn dặn ta rằng, nếu có một ngày gặp lại công tử, thì giao đứa bé này cho ngài, cứ xem như con chó con mèo mà nuôi. Sau này ngài có thêm cơ thiếp sinh thêm con cái thì nhất định không được giao đại sự cho đứa bé này. Chỉ đến khi lớn tuổi qua đời, nếu vừa vặn bên cạnh không còn ai thì để nó trông lăng cho. Cuộc đời này nàng đã nợ công tử quá nhiều, chỉ có thể dùng đứa bé này để báo đáp. Từ khi tiểu công tử ra đời, Hai Nhăm đã luôn hầu hạ chăm sóc, chỉ xin công tử có thể thu nhận luôn cả nó. Còn một chuyện khác nữa, chủ nhân có sai ta chuyển lời với công tử, đi qua chỗ này, ước chừng khoảng năm dặm, sẽ nhìn thấy một khối đá quái dị, có thể trên trời sẽ giáng dị tượng, công tử chớ đừng sinh lòng hiếu kì, cứ đi thẳng qua là được.”
Quả như lời của hoàng y nữ tử đã nói, chưa tới năm dặm đã thấy một khối đá quái lạ, trên đá có quấn đầy dây leo.
Đứa bé trong lòng ngực của công tử vừa tới đây thì bắt đầu cất tiếng khóc, khóc đến đau đớn nhói lòng.
Công tử thầm thấy kì lạ, nhưng cũng không hề dừng lại, thế nhưng chiến mã chưa đi được hai ba bước thì lại có sấm sét đánh thẳng xuống, chặn ngang đường đi.
Mọi người đều ngạc nhiên.
Công tử lại đi tiếp, thế mà có mây đen kéo tới, mưa lớn trút ào ngay lập tức.
Cả thân bé nhỏ của đứa trẻ ấy co rúm lại, khóc tới mức lịm đi. Hạt mưa rơi xuống mắt mũi đứa nhỏ, chàng nghiêng người, bọc nó trong cái áo choàng trắng, khẽ cúi đầu nhìn, thấy mặt mày nó trắng bệch nhợt nhạt, chẳng hề hồng hào như một đứa bé bình thường.
Chàng sợ đứa bé nhiễm lạnh mà bệnh, lại ôm nó rúc vào lòng mình nhiều hơn, thị vệ cuống quýt bung dù, công tử mới nhẹ nhàng quay người, vó ngựa khẽ nhấc, dung nhan như ngọc, đầu đội kim quan bỗng khựng lại, nhìn chằm chằm vào khối đá lớn.
Chàng hỏi: “Đào khối đá ấy lên, xem ở dưới đó là gì?”
Hơn một trăm binh lính đào xới khoảng chừng hai ba khắc, đến khi trời hửng nắng trong xanh thì cuối cùng khối đá cũng đã bị đẩy ngã.
“Ồ, rễ của cái cây khô này cắm sâu thật đấy.” Quý Duệ cúi đầu quan sát, nói, “Dưới lớp đất vẫn là đá, cành khô phủ trên đá, gắn bó thành một, không biết là rễ quấn đá hay là đá mọc từ rễ nữa.”
Lại một lúc sau, có người nhặt được một tấm bia đá gãy bên cạnh khối đá. Vân Giản cũng sinh lòng tò mò, lệnh cho một hai thị vệ khiêng ra, sau đó cắt một nhúm lông ngựa, khom người quét sạch mặt bia, sau đó mới báo lại cho Phù Tô: “Chủ công, đây là văn tế của một phụ thân viết cho con gái chết yểu của mình. Câu chữ thanh nhã như đầy ai oán, rất đỗi thương tâm.”
“Cô gái đã chết tên gì?”
“Không khắc tên họ. Nhưng mà hình như phụ thân của cô gái là một danh sĩ, danh hào ‘Cô nhất sơn nhân’, ban đầu ông ta luôn đau đáu nhớ thương con gái, sau đó lại nói mình đã bói ra quẻ, thấy người con gái này ba trăm năm…” Vân Giản đang định đọc lại những gì trên văn điếu kia đã viết, lại nghe thấy tiếng Quý Duệ từ xa vọng tới, “Đào ra rồi! Là một quan tài đá, dựa vào cành khô mà cộng sinh!”
Công tử thúc ngựa đi tới, trước mắt quả là một cỗ quan tài bằng đá. Chàng khẽ cúi vàng trán rạng ngời, nhàn nhạt nói: “Mở quan.”
Doanh Yến mặc áo đen vẫn luôn trầm mặc đứng bên cạnh ngựa cửa Phù Tô, tay nắm cương hơi trượt đi.
Bảy tám binh lính cùng thét lớn một tiếng, cùng dùng sức, phiến đá nặng trịch được nâng lên rồi ném qua một bên, nước bùn văng tung toé lên mọi người.
Trong quan tài là bộ xương trắng lạnh lẽo, xương tay, xương chân đều bị gãy, vặn vẹo đáng sợ.
Công tử Thành Anh đứng sững nhìn bộ xương trắng.
Sọ trắng lạnh lẽo, xác này như đã mục rữa khoảng hai ba năm, đương nhiên không còn thấy da thịt nữa.
Tay trái Thành Anh vẫn đang đỡ đầu đứa bé. Đứa bé này là huyết mạch duy nhất mà người vợ bạc tình kia đã để lại cho chàng.
Đứa bé ấy vẫn khóc mãi không dừng, nước mắt của bé rơi xuống lòng bàn tay, chảy qua kẽ ngón tay.
Vân Giản ở bên kia nâng tấm bia lên, tiếp tục đọc: “Vi phụ tìm đá nguyên khối trong núi để đẽo mài thành quan tài, treo ở lưng chừng vách đá, trên đá có cây lạ mọc, có thể làm bạn với con. Nếu không gặp trời long đất lở, núi thành đồng bằng, thì sao chốn này có thể hiện ra được? Thái tử Mẫn cứ nhiều lần truy hỏi về kiếp sau của con, phiền không chịu nổi, chỉ có ở đây mới cho con được vài phần thảnh thơi. Con là quỷ goá bụa, sợ rằng đã lạc mất đường luân hồi. Ba trăm năm sau nếu có cơ duyên, chỉ cần lấy tinh huyết chồng con để nuôi dưỡng hồn phách, chỉ cần trong vòng ba năm không để sinh con làm hòng việc tu hành, ắt có thể sống lại. Nguyên do chuyện này vốn cũng chẳng hề vẻ vang, để tránh hậu nhân truy xét làm bại hoại thanh danh nhà ta, ta đành dựng cho con tấm bia vô danh. Trong mộ có vài món tuỳ táng, đều là thứ ta yêu thích, lại còn có một thánh chỉ Chiêu vương làm chứng, con hãy tự biết quý trọng.”
“Thánh chỉ đâu?” Công tử hỏi.
Yến nhị nhìn vào trong quan tài đá, trong góc có một cuộn giấy đã bị cháy rụi, không còn đọc được chữ, như có người cố tình phá huỷ, không muốn để người khác thấy.
“Rốt cuộc là nguyên do không vẻ vang nào?” Công tử lại hỏi.
Vân Giản đọc nhanh như gió, quét tới dòng cuối cùng, hơi ngạc nhiên, nhưng cũng không đọc tiếp. Cậu nheo mắt lại, Thành Anh xuống ngựa, đi tới bên cạnh tấm bia, chăm chú nhìn kĩ, thấy ở đó có hàng chữ nhỏ xíu, khó thể đọc được.
Thành Anh bình tĩnh nhìn đứa bé trong tay mình, rồi lại ung dung bước lên bàn đạp, chỉ bảo: “Án này không đầu không cuối, không tra cũng được. Tảng đá này mọc lên cùng cây, có phần cổ quái, các ngươi cứ chôn thi hài này xuống cho tử tế. Còn tấm bia đá kia, đập bỏ là được. Dầu sao cũng là bia vô danh, cứ thành toàn cho.”
Mọi người đem thi hài chôn xuống như cũ. Thành Anh phất tay áo, lệnh lên đường.
Đi được khoảng mười dặm, trời đổ tuyết lớn, vó ngựa hất tung tuyết lên.
Đi thêm được mười dặm nữa, tuyết rơi dày hơn, bước thấp bước cao chìm trong nền tuyết.
Sau mười dặm nữa, Quý Duệ xin ý chỉ được cắm trại tránh tuyết, Thành Anh gật đầu, cho phép.
Cái áo khoác lông trắng trên người chàng đã phủ đầy tuyết, chỉ lặng lẽ cúi mắt nhìn đứa bé được che chở cẩn thận trong lòng không dính một giọt mưa hạt tuyết, giao nó cho Hai Nhăm. Con khỉ con chăm sóc đứa bé này rất cẩn thận, nhưng vẫn không dỗ cho nó cười được. Thời tiết hôm nay thật quái lại, gió sương mưa tuyết nối nhau không dứt.
Bỗng Thành Anh cảm thấy trong cổ họng hơi khó chịu, nhưng cũng không để tâm, xoay người xuống ngựa.
“Công tử!” Mọi người kinh hô, chạy tới.
Chàng đã xoay người ngã xuống dưới vó ngựa.
Trên mặt tuyết trắng tinh không tì vết, có một vũng máu đỏ sậm chảy loang lổ.
Chàng thở hổn hển, thở hổn hển không ngừng, khoé môi vẫn còn giọt máu đang chảy.
Chàng cũng thấy kì lạ không biết vì sao mình lại nôn ra máu, nhưng mà hơi thở chàng gấp gáp, ngay cả tiếng r*n r* ở trong cổ họng cũng vỡ vụn không thành lời.
Tiếng gió, tiếng tuyết, tuyết ngựa, tiếng người đều rất rõ ràng, nhưng mà chàng chẳng còn nghe vào được bao nhiêu.
Chàng gượng đứng dậy, mờ mịt trèo lên ngựa, mờ mịt quay người nhìn, chỉ thấy tuyết trắng trải trăm thước, ngàn dặm.
Chàng nhớ tới tiếng trống tiếng nhạc mình đã nghe lúc bé. Tiếng trống ấy không hề tao nhã, chỉ đơn giản là tiếng gõ dồn dập, càng lúc càng nhanh, như tiếng vó ngựa dẫm trên tuyết, nhanh, rất nhanh.
Thế là, những chuyện từ quá khứ liên quan đến hiện tại, từ hiện tại liên quan tới tương lai, cứ thế từ từ được mở ra.
Chàng đã nếm trải qua, rồi bật cười, không hề rơi nước mắt, chỉ ho một trận, cổ họng cứ liên tục trào máu tươi rơi tí tách.
Chàng phải thấy may mắn rằng, từ nay về sau, sẽ không có ai nghiền ngẫm những chữ cuối cùng trên bia đá ấy nữa.
[Thực, ba trăm năm, gả Kiều Hà.]
Nhưng mà A Thực đã chết rồi.
Vốn chẳng biết tương tư, sao biết vì tương tư mà chết.
***
Thời gian đã trôi quá xa, ta lật cổ thư ra xem, chỉ có vài hàng chữ sơ sài. Chẳng như về người vợ A Thực của ta, cũng vỏn vẹn mấy chữ: “Nguyên hậu Hề Sơn, nơi hoang vắng vô tung. Sinh con là Phượng Nô, dưới nắng không thấy bóng.”
Cả phần đời còn lại về sau, ta không còn thích lật sách nữa, chỉ để hoa hải đường làm dấu, đợi tới sang năm. Nhưng sang năm mới, vẫn cứ là trang sách ấy.
Nghĩ đi nghĩ lại, dừng ở đây, cũng được.
Không cần phải lật tới khi không thể lật nổi, chỉ còn một mảnh trắng xoá.
Con ta, Phượng Nô, là một đứa quỷ, từ nhỏ đã yếu ớt, dưới nắng không thấy bóng, nhưng ưa áo nhiệt. Thế nhưng ta không thích náo nhiệt, cũng không thích nó.
Lúc tuổi già, khi mơ màng buồn ngủ, hải đường ngoài điện Thái cực lặng lẽ nở hoa, trên cành cây có buộc một dải tay áo màu vàng.
Ta nheo mắt bước tới, thế là có vài mảnh kí ức từ từ trở về.
Ở trên đó có một đứa bé đang trốn, thở mạnh cũng không dám, em muốn rời khỏi ta, thế nên trốn ở đây.
Ta thấy em đang ngồi trốn giữa tàng cây, nhắm mắt thầm cầu nguyện, hàng mày nhíu chặt. Ta cảm thấy buồn cười, bèn dang hai tay, bất kể em đang cầu nguyện tới trời cao hay thần tiên.
Nếu em có cúi đầu, sẽ thấy những thứ kỳ dị được giấu dưới đáy mắt ta.
Từng chút, từng chút một, nếu phải kể ra, đều là thứ tình yêu luôn phải được giấu kín, luôn phải đề phòng.
Nhưng em nghịch ngợm, chưa từng té ngã, nên ta đành phải dựa vào dưới tàng cây hải đường, gảy đàn mà mỉm cười.
Ta đợi em phát hiện , khẽ khàng gọi một tiếng ‘Ca ca’, sau đó ta sẽ vờ như không thích em lắm, nắm bàn tay bé nhỏ, dắt em về nhà. Dạy em đọc sách biết chữ, kể em nghe những câu chuyện xưa. Tiêu hao bao năm tháng, ngày qua ngày, chất chồng sự nuông chiều.
Tình yêu của ta rẻ mạt hơn của người khác, đầy rồi tràn ra, không có gì đáng tiếc. Vì ta biết, rồi cũng tới một ngày, nó vẫn sẽ đầy lại.
Chỉ vài chữ vỏn vẹn qua loa, sao sách này có thể khép lại?
Nó đang đợi ngày ta chết.
Vì sớm sớm chiều chiều, mãi cũng không còn gặp lại.