Chương 11 - Chiêu Hề Cựu Thảo - Thư Hải Thương Sinh

Chiêu Hề Cựu Thảo - Thư Hải Thương Sinh

“Kiều quân, nịnh đồ. Niên thiếu luyện vương thuật, ô danh ngàn đời.”

–< [Chiêu sử]·[Quyển 1] > Vệ dị nhân.

 

 

Thuở xưa, rất lâu về trước, có một truyền thuyết lưu truyền khắp thiên hạ.

 

Ngày ấy, trên trời cũng có một đế quốc. Người ở phàm trần gọi là người phàm, người ở trên trời gọi là người trời. Trần gian có những con đường bốn phương tám hướng, người qua kẻ lại tấp nập, đủ thứ hàng bán, tiếng cười nói, ca hát, khóc than thì trên trời cũng có. Người phàm dùng sợi tơ để may quần áo, người trên trời thì dùng mây để kéo sợi. Quần áo dưới trần dùng thuốc nhuộm để tạo ra nhiều màu khác nhau, còn mây trời chia làm màu ráng chiều, màu màn đêm, màu của mặt trời. Màu ráng chiều là màu tự nhiên từ bên trong đám mây, mây màn đêm thì thường sẽ mang sắc đen trầm, còn những áng mây được mặt trời soi sáng thì cũng chỉ những thiên nhân vẻ ngoài xinh đẹp mới dám mặc. Người dưới trần dùng tiền mua đồ, người trên trời lại dùng mây để đổi đồ. Một miếng thịt cần một cụm mây để đổi, một cây búa thì hai mảnh mây. Người phàm phải lao động, tích trữ lương thực, dùng lương thực đổi thành tiền. Người trời thì không cần, người trời chỉ trồng mây, trồng mây xong thì thu hoạch, thành từng mảnh mây đặt trong túi, muốn ăn gì thì đi chợ mua

 

Nước ở dưới nhân gian gọi là Đại Chiêu, còn nước ở trên trời gọi là Thái Bình.

 

Người Đại Chiêu sinh ở trong nôi, người Thái Bình lại rơi xuống thiên hà. Người Đại Chiêu chết đi chôn dưới đất, còn người Thái Bình chết đi thì được chôn trong những vì sao. Mỗi một ngôi sao là những ngôi mộ. Có bao nhiêu người Thái Bình đã chết thì trên trời có bấy nhiêu vì sao. Sao sáng là những người khi còn sống đạo đức cao sang nhân hậu hiền lành, còn ngôi sao nào ảm đạm là vì trước khi chết đã hại nước hại dân.

 

Lúc gió xuân thổi tới Đại Chiêu, là lúc Chiêu nhân bắt đầu lao động; Khi gió thổi qua Thái Bình, mây sẽ tan đi. Khi mây tan, sao lên cao, Thiên quốc sẽ không có ai nữa. Những người bán đường, bán mì hoành thánh, những người diễn xiếc múa rắn cũng không còn, ai về nhà nấy. Các cô gái bắt đầu chăm chỉ học cầm kì thư họa, không cãi nhau với ca ca đòi ra ngoài chơi, ra ngoài gặp rất nhiều rất nhiều người, chỉ chờ ngày trở thành một cô nương tốt đẹp nhất, gả cho người tốt đẹp nhất thế gian; còn ca ca thì phải đọc rất nhiều rất nhiều sách, cứu rất nhiều rất nhiều người, cố gắng để sau khi chết đi, trở thành ngôi sao sáng nhất.

 

Rất lâu về sau, ca ca xuất chinh, muội muội xuất giá, bọn họ đều đạt được ước nguyện.

 

Ba trăm mười năm về trước.

 

“Sau đó thì sao?”

 

“Sau đó, thì muội nên trở về khuê phòng của mình.” Thiếu niên nhìn cô bé đang cuộn tròn như nhộng, ngồi yên tĩnh bên thành giường.

 

Cô bé bĩu môi, chỉ ra ngoài trời nói: “Đang mưa mà, ca ca.”

 

Cô bé rất sợ mưa, cứ hễ trời mưa là bám lấy ca ca. Ca ca của em cũng như mẹ, nuôi em từ nhỏ đến lớn.

 

Thiếu niên mặc áo bào trắng, ngọc khấu được gỡ ra, treo tòng teng lỏng lẻo. Chàng cũng hơi mệt, chuẩn bị đi ngủ, ôm con nhộng kia định ném cho tì nữ. Cô bé lại vươn hai tay như sợi râu, ôm chặt lấy cổ thiếu niên, ghé vào tai chàng thì thầm, nhẹ nhàng nói: “Ca ca, chúng ta làm một giao dịch nhé.”

 

Thiếu niên mỉm cười, nhưng trong mắt lại chẳng có vẻ gì vui, “Lại muốn chép ‘Nữ giới’ rồi à?”

 

Trời mưa lần trước, cô bé cũng nói chuyện với ca ca, sau đó bắt đầu tán gẫu về bầu trời, từ con mèo trong vườn hải đường đến con cá vàng trong hồ sen xuân, từ côn trùng kì lạ sinh ra trong chậu cảnh ở Phù dung các, cho tới chuyện Chu đại nương trong bếp lại có thể lấy thịt cóc để nấu chén canh cho lão già nhà bà ấy bồi bổ. Càng nói em càng hưng phấn, Nhị lang càng nghe càng thấy ghê, cuối cùng phải khép hai mắt em lại, dỗ em vào giấc ngủ. Ngày hôm sau Nhị lang nghĩ mãi mới nhận ra mình bị cô bé này lừa, bèn phạt em chép một trăm lần, sau đó bắt em chép ‘Nam nữ từ bảy tuổi không được ngồi chung’ trong một ngàn lần nữa.

 

Cô bé dịu dàng dán khuôn mặt mềm mại đỏ hồng của mình vào mặt thiếu niên, giảo hoạt hỏi: “Ca ca, huynh thật sự thật sự không muốn biết, tiên nữ biểu tỷ mới tới thích ai à?”

 

Chàng nhướng mày, kéo em từ trong chăn bông ra, để xuống trước mặt để xem xét, mỉm cười, “Trẻ ngoan, cái gì gọi là thích?”

 

Cô bé cười trộm, “Là lúc ở trong hoa viên, có một thư sinh tài trí hơn người sau này đỗ Trang nguyên, vô tình gặp được một tiểu thư tinh thông cầm kỳ thi họa, vẻ ngoài như tiên. Bọn họ vừa gặp nhau, là thích liền.”

 

Thiếu niên để mái tóc đen được cột bằng vòng ngọc, lỏng ra, dịu dàng hỏi: “Ai kể chuyện này cho muội?”

 

Cô bé cười đáp: “Huynh đừng hòng phạt ai, em đọc trong sách đó. Chẳng liên quan tới ai hết.”

 

Thiếu niên cũng không vội ném em đi, đặt em bên giường, khẽ cười hỏi: “Ta cũng muốn làm một giao dịch với muội, thế nào?”

 

Cô bé gật đầu.

 

Thiếu niên lại tiếp: “Ta nói muội biết biểu tỷ của muội thích ai, muội sẽ cho ta mượn cuốn sách muội đọc, được không?”

 

Cô bé bị chàng dẫn dắt, “Không phải là em sẽ nói cho huynh biết à?”

 

Thiếu niên lạnh nhạt: “Thế thì chúng ta cùng nói, xem ai nói đúng. Ta nói đúng thì muội phải đưa sách cho ta.”

 

Cô bé ngốc suy nghĩ, gật đầu đồng ý.

 

Cô bé ngồi huơ những nét xiên nét sổ lên tay anh trai, còn ca ca em thì dùng ngón tay lạnh như băng dịu dàng gõ vào trán em, “Đương nhiên là biểu tỷ của muội thích muội.”

 

Em nóng nảy, “Không đúng! Không phải em!”

 

“Biểu tỷ của muội không thích muội sao?”

 

“Tỷ ấy thích em chứ, em là một thiếu nữ đáng yêu lanh lợi thế này, đương nhiên phải thích chứ.”

 

“Vậy ta đoán đúng rồi phải không?”

 

“Hình như cũng không sai. Em tốt thế này, ai cũng thích. Ừm, huynh nói cũng có lý.”

 

“Thế có thể cho ta mượn sách của muội xem một chút rồi.”

 

“Cho huynh mượn, nhưng đừng để ai xem nha, em nghe người ta nói, người lớn mà thấy là sẽ đánh em, còn đốt sách nữa á. Năm nay ca ca mới mười bốn tuổi, vẫn là trẻ con, không phải người lớn. Được rồi, có thể xem một chút. Đấy, trước giờ kiến thức của huynh bảo thủ, cũng nên xem qua một chút. Huynh đọc qua là biết thư sinh trong sách tốt thế nào, là một nam nhi tốt thanh nhã như tiên, có tình có nghĩa ra sao, giải cứu tiểu thư đang ở trong khuê các ngục tù. Sau khi kết hôn bọn họ còn đi khắp núi cao sông sộng, những phong cảnh đó mỹ lệ đến mức cả cũng chưa từng nhắc đến, đọc xong là có thể mở mang kiến thức rồi.”

 

Ngày hôm sau, quả nhiên cô bé bị ăn đòn, sách cũng bị đốt. Rương sách bị nội thị tịch thu từ khuê các, dù cho em đã giấu kĩ đến đâu, nhét phía đông một quyển, đằng tây quyển khác. Cô bé khóc tới mức xì bong bóng mũi, thiếu niên bạch y kim quan, lạnh lùng như bạc hà. Người ta đặt một chậu than trước mặt chàng, ngọn lửa tham lam, thiêu hết một cuốn là cô bé kia chịu một gậy.

 

“Thanh nhã như tiên?”

 

“Hu hu… Cuốn của ta, huynh thật ác độc, lão già!”

 

“Có tình có nghĩa?”

 

“ của em!”

 

“Khuê các ngục tù?”

 

“Huynh à, đó là bản duy nhất, huynh à, đó là sách em mượn của người khác, hu hu… huynh thiêu em luôn đi cho rồi!”

 

“Núi cao sông sộng?”

 

“Huynh cứ đốt đi, dù sao em cũng thuộc rồi, huynh đốt một quyển, lát nữa em lén chép lại một quyển!”

 

“Có thể mở mang kiến thức?”

 

“Em liều với huynh, hôm nay em sẽ liều mạng với huynh! Huynh đừng cản ta, chắc chắn huynh sẽ không cản được một người ưu nhã thông tuệ như em. Em sẽ đập đầu tự tử vào người huynh, khiến cả người huynh máu me nhầy nhụa. Năm sau em sẽ đầu thai thành con cóc, ngồi xổm trên đầu huynh trên đường lên triều, em sẽ tè ướt cả người huynh!”

 

Thiếu niên nhìn cô bé bị hạ nhân giữ chặt, tay cầm khăn xoa bàn tay như băng như ngọc, cười lạnh: “Khổ cho cô nương đến kiếp sau vẫn nhớ nhung ta, làm con cóc mà vẫn lưu luyến bổn quân. Muội cũng chớ quên bổn quân, bổn quân cũng thích muội lắm, thích đứa trẻ ngoan như muội muốn chết!”

 

Cô bé khóc tới mức mắt sưng húp, gằn giống gào lên: “Huynh lừa ta? Huynh thích ai chẳng phải bản thân huynh rõ nhất hay sao? Anh thích biểu tỷ nhưng không muốn để người ta biết, huynh đừng tưởng ta không biết! Đồ nói dối! Đồ tiểu nhân!”

 

Thiếu niên không bộc lộ cảm xúc, mãi lâu sau mới mỉm cười bảo: “Bổn quân đúng là tiểu nhân trong ‘chỉ có nữ tử và tiểu nhân là khó dạy’, mà muội chính là nữ tử khó dạy hơn cả tiểu nhân!”

 

Chàng lẳng lặng nhìn cô bé chịu đòn, như đang ngắm nghía bồn cây hiếm lạ nào đó, tới khi em khóc đến mức không thành tiếng, mới phất tay áo bỏ đi.

 

Năm ấy, Tam nương Kiều Thực mười tuổi, một cô bé lùn tủn. Nhị lang Kiều Hà mười bốn tuổi, bạch y thanh sảng.

 

Ba trăm lẻ chín năm trước.

 

Em nhìn xung quanh, bốn bề xanh biếc, không sáng lắm, chỉ có vài tia nắng xuyên qua kẽ lá, chiếu xuống lông tơ trên khuôn mặt nhỏ xíu của cô bé.

 

Em nuốt nước bọt, nhẹ nhàng đặt hành lý trên lưng xuống, nơm nớp nhìn xuống dưới tàng cây, thấy có đoàn người đi từ xa tới đang cười nói rôm rả, cô bé ngoan ngoãn ngồi xổm, không dám thở mạnh.

 

“Nghe danh Quận quân phong nhã, nay thấy vườn này, quả nhiên khí độ phi phàm, thật nhiều kỳ hoa dị thảo, hiếm thấy trên đời!” Tiếng một người đàn ông trung niên vang lên.

 

“Quốc lão cả đời, kiến thức sâu rộng, từ cố đô Hàm Dương tới cung A Phòng (*) dài rộng, nhân gian tiên cảnh cũng chỉ tới đó thôi. Khu vườn này tạo hình thô thiển, nhìn qua một chút còn được, nào dám để người nhìn kĩ, chẳng phải làm trò cười cho mọi người sao?” Thiếu niên mỉm cười nhẹ nhàng, quả thật phong nhã ôn nhu, hoàn toàn không giống với lời đồn trong hoàng đô, không hề có vẻ ngang ngược gian nịnh của một quyền thần chút nào.

 

(*) cung điện nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, được cho là xây dựng dưới thời Tần Thủy Hoàng. Cung A Phòng là một công trình khổng lồ, có nhiều tòa nhà và hành lang nối tiếp nhau không ngừng.

 

Nhũng hoa này được chăm sóc rất kĩ. Cung Tần vương cũng từng có những bông hải đường đẹp thế này, sau cơn mưa càng rực rỡ hơn. Bát quái dịch thuật của Thái Úy đại nhân ngày càng tinh tấn, tính toán để cho căn vườn này luôn sinh sôi nảy nở, khiến người khác phải ngưỡng mộ.” Quốc lão gật đầu mỉm cười nói: “Hôm nay Lão thần thật sự vinh hạnh, có thể cùng Quận quân đi dạo trong vườn.”

 

Tiếng bước chân của đoàn người càng lúc càng xa, Một mẩu thở phào nhẹ nhõm. Giờ ngọ nên lính canh trong vườn có phần lơ là, em định nhân cơ hội này trốn đi. Chỉ mong như mọi người rỉ tai nói cho em biết, đúng là dưới bức tường bên cạnh cây hải đường có một lỗ hổng không lớn không nhỏ, có thể vừa vặn cho một đứa trẻ ba tuổi chui qua. Em cầm một túi tiền vàng, đến lúc đó có thể nhìn thấy trời cao biển rộng, trốn khỏi nhà tù cao đến đáng sợ này.

 

Em đang suy nghĩ thì nghe thấy tiếng muỗi vo ve bên tai. Bốp một cái, đánh chết một con, rồi lại nghĩ tiếp. Đang suy nghĩ thì nghe tiếng bước chân thong thả dậm trên lớp bùn xốp sau cơn mưa.

 

Em cúi đầu nhìn xuống qua những tàng cây, thì ra chính là tên gian thần nịnh đồ kia.

 

Quốc lão đã dạo vườn xong, chắc đã rời đi, tên gian nịnh kia vẫn còn mặc bộ triều phục màu đỏ, chắc là bận rộn quá chưa kịp thay. Chàng là người rất sạch sẽ, nếu đi thay áo thì sẽ không quay lại nữa. Một mẩu nín thở, thầm yên tâm.

 

“Hôm nay bày tiệc trong vườn, sau mưa nhiều muỗi, mang hoắc hương ra xông đi.” Chàng thiếu niên như nghĩ tới điều gì đó, đứng dưới cây hải đường, chúng nhân nghe lệnh.

 

Một mẩu trợn tròn mắt.

 

Không lâu sau, lư hương được mang tới. Không lâu sau, muỗi bị hun bay tán loạn trên cây. Khuôn mặt nhỏ nhắn trắng hồng của Một mẩu có chi chít vết muỗi đốt, ngay cả ngón tay cũng có. Em bị muỗi chích tới mức rưng rưng nước mắt, nhưng không dám hó hé, sợ người xấu kia nghe thấy.

 

Đây là cơ hội duy nhất trong đời.

 

Người ấy thanh nhã, lưng thẳng, mũ sa hơi cụp xuống, ăn rất nhàn nhã.

 

Một mẩu xoa cái bụng lép kẹp, thầm thở dài.

 

Khi chàng ăn xong, cuối cùng em cũng thở dài một hơi, cảm giác chỉ còn cách tự do một bước nữa thôi.

 

Nhưng sau khi ăn xong chàng uống trà hết cả một nén nhang, rồi lại mỉm cười nói với tùy tùng: “Mang đàn của bổn quân ra đây.”

 

Chàng ăn uống xong lại gảy đàn. Vai chàng rộng, lồng ngực rất ấm, những điều này em biết hết, nhưng chàng là một kẻ xấu.

 

Thiếu niên ngồi khoanh chân dưới cây hải đường. Hoa hải đường hướng về chàng bạc hà khoe sắc. Chẳng biết chàng lang quân đang đàn khúc nhạc cổ nào, ting ting tang tang, cả cỏ non, cả nai con cũng lặng yên quỳ gối lắng nghe.

 

Cô bé dụi mắt, lặng lẽ nhìn chàng thiếu niên lang quân ở dưới.

 

Gảy đàn xong, chàng lại cầm cờ nghiên cứu thế cờ một mình, đôi mày cau lại cũng mang vẻ đẹp thanh nhã. Người ngoài ai cũng biết chàng đẹp, nhưng không biết chàng là người xấu. Chính tên xấu xa này đã biến em thành hình dáng như hiện tại. Ngày đông xem em là lò sưởi, mùa hè chê em hoạt bát, mặc em bị gió mưa vùi dập. Chàng thả hay không thì hoàn toàn là ý của chàng, chẳng liên quan gì tới em cả. Em là con mèo con chó chàng nuôi, từ lâu không biết nhân gian có dáng vẻ gì, huống chi là bầu trời.

 

Trưa nắng nóng, Một mẩu nho nhỏ giận dỗi rung lắc cây hải đường, nước mắt ứa ra. Hoa bị động rơi xuống người chàng thiếu niên.

 

Chàng vẫn không ngẩng đầu, để mặc cánh hoa phủ đầy bàn cờ.

 

Em từ từ trượt xuống theo từng chạc cây, lại một lần nữa, bị ngăn cách khỏi vùng trời tự do.

 

Sau đó lách người qua khỏi bàn cờ rồi chui vào lòng thiếu niên, ôm hông chàng.

 

Thiếu niên vẫn chẳng mảy may nhìn em một cái.

 

Em ngẩng lên tới cằm chàng, líu ríu: “Em nhớ huynh rồi, ca ca.”

 

Cả chạy em còn chưa chạy thoát, đã ở cạnh chàng tròn một ngày. Cây cao mười thước, chẳng biết có tính là xa?

 

Nhưng khi chàng ăn, bên cạnh không có em; lúc uống trà, không có em; lúc đánh đàn, không có em; lúc chơi cờ, không có; lúc nhíu máy, không có; lúc mỉm cười, càng không có. Chàng có em hay không, hình như chẳng có gì quan trọng. Nhưng ngặt là, em không có ca ca, như con chim non mãi không về tổ được.

 

“Ca ca, em không thể rời xa người.” Cuối cùng em cũng không dằn được mà nhìn chàng, hơi ngửa đầu, nghẹn ngào ch** n**c mắt.

 

Thiếu niên đặt quân cờ xuống, mãi lâu sau mới bế em lên, đặt trong lồng ngực ấm áp, dịu dàng hỏi: “Muội định đi đâu?”

 

“Đến nơi không có huynh.”

 

Chàng bật cười, môi tái nhợt, ánh lên triều phục màu đỏ, trông càng không chân thực. Chàng nói: “Cần gì phải sốt ruột như vậy?”

 

Năm đó, Tam nương Kiều Thực mười một tuổi, một cô bé lùn tủn. Nhị Lang Kiều Hà mười lăm tuổi, áo đỏ rực rỡ.

 

Ba trăm lẻ tám năm trước.

 

Thật ra Kiều Thực không phải sinh ra đã lùn, mà do lúc bốn năm tuổi, em bị phong hàn, sau khi tỉnh lại thì không cao nữa. Kiều Quận quân nuôi một đám danh y, để chăm sóc sức khỏe cho em, ngày nào cũng uống một chén thuốc đắng, uống tới tám chín năm trời vẫn không thấy hiệu quả. Nay đã tới tuổi trổ mã xuân thì (*khoảng 13-15 tuổi), em vẫn giữ nguyên hình dáng cũ.

 

Khi Nhị lang rảnh rỗi, có hứng thú đã từng vẽ một bức chân dung cho Quý thị, vẽ cô gái môi hồng răng trắng, nhan sắc nào có thể mô tả bằng lời, tay cầm ngọc như ý, quả thật khuynh thành. Tam nương quấn quýt năn nỉ Nhị lang vẽ cho mình một bức, Nhị lang liền vẽ một cô bé khờ ôm mèo. Em vừa nhìn đã òa khóc nức nở, không chịu, nói muốn phải đẹp như biểu tỷ mới được.

 

Nhị lang nói: “Nàng ta trông thế nào, muội so sánh với nàng ta làm gì? Kém cỏi quá.”

 

Cô bé lại khóc lóc: “Biểu tỷ đẹp đấy, nhưng sao em không thể đẹp chứ? Chẳng qua em chỉ không cao mà thôi, em khiếm khuyết vậy nhưng chẳng vẽ bức tranh cũng không xứng à?”

 

Thiếu niên bị em gây phiền tới mức không chịu nổi, tức giận cong ngón tay gõ vào trán em, “Khi nào muội trưởng thành, cũng sẽ trở nên xinh đẹp!”

 

Cô bé kiên trì tranh luận, “Huynh chỉ cần vẽ thôi, sao biết em không đẹp?”

 

Chàng chỉ đành nhìn em, sau đó cẩn thận vẽ một bức tranh trên tấm lụa. Tranh vẽ xong, nhưng mặt chàng lạnh như sắt, phất tay áo bỏ đi.

 

Cô bé nhìn tranh, nơi đó có một thiếu nữ áo vàng nhan sắc khuynh quốc. Em nhìn ngây ngốc một lát, như bị mê hoặc, rồi sau đó lại khóc nức nở hơn.

 

Em khóc trong khuê phòng, biểu tỷ tới, để tránh em nhìn tranh thấy buồn, bèn nói: “Ta lấy tranh của ta trao đổi với em. Đợi khi lớn rồi, trở nên đẹp hơn, ta sẽ trả lại cho em, được không?”

 

Lòng em buồn bã ủ rũ rất lâu, đến khi treo tranh của biểu tỷ trước cửa sổ, Nhị ca quay lại, cứ nhìn chằm chằm vào bức tranh kia, hỏi: “Muội thích Quy thị à?”

 

Chàng cũng tới độ tuổi  như bạch y công tử thích thiếu nữ mười sáu như trong sách. Tuy rằng chàng học giỏi hơn em, hạ cờ tính toán hơn em, ngoại hình cũng đẹp hơn e, thì sao chứ? Rồi sau này cũng sẽ thích một cô nương nào đó trên đời này, kiến công lập nghiệp, rồi cưới nàng ta về nhà thôi.

 

Cô bé nở nụ cười, em có thích hay không cũng quan trọng gì, chẳng phải chỉ cần ca ca thích là được rồi sao? Một ngày nào đó em sẽ bị xem như một quái vật chết đi, nhưng tình cảm kì quái thừa thải chỉ khiến người khác khó xử phiền phức thôi. Em nói: “Biểu tỷ đối xử với em rất tốt, còn tốt hơn ca ca nữa. Ca ca chỉ thương muội một hai phần thôi, biểu tỷ tận tâm tới mười phần. Em thích biểu tỷ, hơn cả thích ca ca.”

 

Chàng không nói gì, chỉ nhìn em, khẽ nở nụ cười nhạt, nụ cười như chạm tới tim, cũng như không.

 

Năm ấy, Tam nương Kiều Thực mười hai tuổi, vẫn chỉ là một cô bé lùn. Nhị lang Kiều Hà mười sáu, bạch y phiêu dật.

 

Ba trăm lẻ bảy năm trước.

 

Ca ca của cô bé đã ngừng bắt em uống thuốc đắng mỗi ngày, rồi em cũng từ từ cao lớn, từ từ giống như người mẹ đã khuất của mình. Thi thoảng gặp Trưởng công chúa, khuôn mặt cao quý kia lại mang vẻ âm tình bất định. Cô bé giỏi bốc quẻ, trong mấy anh em tỷ đệ bọn họ, chỉ có em lại thừa hưởng tài năng của Kiều Thái úy. Thái úy trước nay luôn lạnh nhạt với em, không biết vì nể mặt công chúa hay chán ghét nên vứt bỏ mẹ đẻ của cô bé. Chỉ đến sinh nhật năm em mười tuổi, ông tặng một mai rùa nhỏ làm quà, để em tự lắc quẻ. Em ngông nghênh đọc mấy quyển sách về Kinh dịch là bắt đầu mở quầy đoán mệnh trong nhà, kéo người tới đoán. Lúc đầu chẳng ai tin, sau đó đúng vài lần, mọi người mới thấy giỏi.

 

Cô bé thích chơi cờ, nhưng lại kém mưu lược, thua trận này tới trận khác, càng đánh càng hăng. Một ngày nọ, em đánh cờ cùng thiếu niên, cô bé cầm cờ đen, thua thảm hại, chỉ còn đúng một quân. Mặt mày em ủ rũ uể oải, chàng lại đưa tay, lấy quân cờ đen của em, tháo miếng noãn ngọc mình luôn đeo bên hông từ nhỏ xuống, cúi đầu nhìn, nhẹ nhàng nói: “Cứ thắng con khỉ như muội mãi cũng chẳng có ý nghĩa gì, chẳng biết chửi mắng sau lưng ta mấy lần rồi. Nay lấy ngọc đổi quân cờ cuối cùng của muội, công bằng không?”

 

`Cô bé khi ấy đỏ mặt, ngoài mặt không dám cãi Nhị lang, sau lưng thì mắng tới văng nước miếng.

 

Sau đó, Nhị lang cười lạnh: “Mấy ngày nay, ta đã tìm được cho muội một phu quân thiên hạ vô song, chúc mừng cô nương sau này đã có tự do. Chỉ ngặt nổi cô nương phải chờ một chút, bổn quân sắp phải xuất chinh ngay, nhanh thì một hai năm, chậm thì hai ba năm, ngày ta về, sẽ là ngày tiễn muội xuất giá.”

 

Cô bé ngây người, bàn tay nhỏ cầm miếng ngọc, ngơ ngẩn nhìn Nhị lang. Nhị lang không kiềm được, đưa tay kéo bím tóc em, nói: “Con bé ngốc này! Ta nuôi muội lớn như vậy, muội lại là tai họa khiến hắn nát nhà tan cửa, coi như cũng có vài phần bản lĩnh đấy!”

 

Cô bé hăm hở xoa tay.

 

Chàng lại cười, khuôn mặt nhẹ nhàng khoan khoái, nụ cười từ tận đáy lòng. Chàng không thường thoải mái như vậy, nhất là khi trước mặt cô bé này. Có lẽ thiếu niên u ám kia mới thật sự là anh trai của em, cho dù bên ngoài chàng lại là người ôn nhã hay cười. Cô bé hơi động lòng, hỏi chàng: “Có thể sánh bằng nhị ca không?”

 

Nhị lang im lặng không đáp.

 

Lại qua hai ngày sau, Thiên tử có chỉ, Kiều Nhị lang lĩnh binh ra trận.

 

Khi chàng đi, em đã bói một quẻ. Quẻ báo rằng ca ca sẽ toàn thắng trở về, em liền thỏa mãn tràn đầy hy vọng chờ là tân nương.

 

Em chạy tới phòng khách, hỏi lão cha: “Cha ơi, ai là thiên hạ vô song?”

 

Cha nàng nghĩ ngợi rồi đáp: “Thiên tử?”

 

Cô bé bắt đầu òa khóc, ôi người mẹ quá cô của con, đừng lôi con ra hãm hại vậy chứ! Thiên tử gia gia là ông ngoại của Nhị ca, vậy chẳng phải ta sẽ thành bà ngoại của Nhị ca à? Đã vậy còn là ca ca ruột nữa chứ. Thảo nào lúc đi huynh ấy còn nhìn ta cười, người ngoài bảo ca ca là gian thần, ca ca của ta xấu xa quá, cha ơi!

 

Em khóc lóc sướt mướt với cha, cha em dở khóc dở cười, cái gì mà nói bậy nói bạ thế này. Em kể lại ca ca bảo đã tìm cho em một người ‘thiên hạ vô song’ để làm phu quân, Thái úy nghe xong nghiêm mặt rất lâu, sau đó ho khan: “’Thiên hạ vô song’ ở đây không phải Thiên tử đâu, làm một công tử thông minh, rất đẹp.”

 

Em hỏi cha, “Đẹp tới mức nào?”

 

Khi ấy Thái úy đại nhân đang ăn điểm tâm, cách đó không xa có đĩa bánh bao, bị em quấn lấy không biết làm sao, chỉ đại cái bánh bao, đáp qua loa, “Gần giống như vậy.”

 

Thế là hại em từ đó thấy bánh bao là cười khúc khích, bỏ vào miệng, nâng niu dịu dàng cắn từng miếng, rồi lại xấu hổ.

 

Em hỏi cha: “Thiên hạ vô song có cao không.”

 

Lão cha giơ tay ước chừng bằng hai lần chiều cao em, lẩm bẩm: “Cao thế này.”

 

Từ đó, mỗi ngày cô bé đều uống ba cân sữa bò.

 

Như lời của ca ca đã nói, em đã thật sự cao lên, gả cho thiên hạ vô song, cũng đã thật sự cố ý hại người ta tan cửa nát nhà.

 

Em từ từ cao lên, từ từ lớn lên, từ từ mơ từng giấc mơ. Trong mơ có thiên hạ vô song.

 

Năm đó, Tam nương Kiều Thực mười ba tuổi, thiếu nữ xuân thì, Nhị lang Kiều Hà mười bảy tuổi, áo giáp oai hùng.

 

Ba trăm lẻ ba năm trước, lão nô trong nhà cõng em lên núi, bàn tay già nua vuốt mắt em.

 

Em đã quên mất gì đó, sau khi tỉnh lại, người vẫn mặc một bộ váy đỏ.

 

Năm đó, em mười bảy tuổi, váy đỏ tóc đen, còn Nhị lang,… Nhị lang đang nơi nao?

 

***

 

Hai trăm năm trước, nàng cùng cặp vợ chồng Thúy Nguyên xuống tiểu trấn dưới Hề Sơn để uống rượu xem múa. Ba vò hầu nhi tửu, một màn hí kịch hoang đường.

 

Các cơ đán trong vở diễn trang điểm rất quái dị.

 

 

Hát một ca khúc đế vương tướng lĩnh tự định chung thân ở hậu hoa viên.

 

Trên sân khấu, hát vở kịch nửa thật nửa giả. Cực kì lâu trước đây, vào thời vị quân chủ đầu tiên của Đại Chiêu, Thành Cảnh, cuối cùng cũng bình định được chư hầu phía nam, lên ngôi Thiên tử.

 

Chiêu Thiên tử ghi lại công lao, lưu danh thiên cổ, sau khi thống nhất thiên hạ vốn sẽ hưởng thái bình, đâu ngờ lại có một chuyện, khiến ngài luôn canh cánh trong lòng.

 

Thành Cảnh đã ngoài sáu mươi, anh hùng tuổi xế chiều, vẫn không có con trai. Cả đời của ngài chỉ có duy nhất một cô con gái – Hoa quốc công chúa.

 

Hoa quốc công chúa gả cho Kiều Ngũ, sinh được một trai hai gái. Kiều Ngũ giữ chức quan Thái úy, nắm quyền quân chính.

 

Con trai duy nhất của Công chúa và Thái Úy, dù danh chấn sử sách, nhưng muôn đời bị thóa mạ, tiếng xấu vang dền, Quận quân Kiều Hà. Kiều Hà từ nhỏ đã giỏi giở trò tâm kế, thủ đoạn độc ác. Có vu tộc lén đồn rằng, người này là tai tinh hạ phàm, mai sau sẽ làm hại vạn dân.

 

Vì Kiều Hà là người thừa kế duy nhất của đế quốc, thủ đoạn lại rất hung ác, chỉ mới mười lăm tuổi, chúng thần đã rất sợ chàng, đương thời có sử quan từng châm biếm: “Lũ nô lệ trước mặt chủ cung kính sau lưng làm trái luôn đếm không hết, vậy mà với quân thì lại trước sau như một.” Ý rằng với Kiều Hà thì đám người thấp kém đó vẫn luôn kính sợ chàng, và cũng luôn thù hận chàng.

 

Chàng quá đỗi thông minh, lại rất cao quý, như luôn ở trên mấy. Tiếc là con người quá nham hiểm, sức khỏe cũng không được tốt lắm. Con người Kiều Hà lạnh lùng, chỉ có một linh vật làm bùa hộ mệnh ‘như con mèo con chó’ luôn được mang theo bên người, vào đông thì ôm vào lòng để trên đầu gối để xử lý chính vụ, cũng chính là cô em gái út cùng cha khác mẹ của chàng, Tam nương.

 

Tam nương nhỏ hơn Kiều Hà bốn tuổi, từ nhỏ đã luôn thấp bé, tướng mạo xấu xí, vậy mà chẳng biết sao lại có duyên với vị Quận quân kì lạ này, được đích thân nuôi dưỡng bên người, từ bài trí khuê các, dạy văn học lễ, cầm kì thi họa đều không để ai can thiệp.

 

Mọi người đều biết, với tính cách lãnh đạm của Kiều Hà, điều này không phải vì chàng đã quá yêu thương cô em khác mẹ, chẳng qua vì có tính toán với em, muốn chăm sóc có tốt để dùng vào chuyện lớn ngày sau. Ở Đại Chiêu, con gái chẳng qua là thứ đồ được cha mẹ sinh ra mà thôi.

 

Nếu mà để đăng lâm thiên hạ, vứt bỏ em gái ruột còn được, nếu chỉ là một đứa em khác mẹ, còn là địch nữ thì cớ sao lại không làm?

 

Kể tới Kiều Tam nương thì phải nói đến mẹ của em, Quy thị, vốn là người vợ tào khang, nhờ đức hạnh nổi bật mà phu quân may mắn được chọn nhập đô, tới khi công chúa nhìn trúng thì liền trở thành bình thê, mặc người chà đạp tới chết. Chỉ là tới khi chết Quy thị vẫn không mất danh phận vợ cả, công chúa canh cánh trong lòng nên vẫn luôn không ưa gì Tam nương, hồi bé cứ hễ tí là đánh chửi, khiến cho tính cách của cô nương trở nên cực kì nhát gan tự ti. Về văn thơ, trình độ của Kiều Hạ ở mức thiên tài hiếm có, xưa nay dạy Tam nương rất nhiều nhưng em mãi chẳng thông, so với anh trai, lại mang xuất thân như vậy, cứ hay giật mình sợ hãi, nhút nhát e dè nên càng không được thích.

 

Có sử sách ghi rằng, ca ca ôm em trong lòng, ở sau trong bình phong gặp đại thần, thương nghị chính sự nhưng cô bé này vẫn luôn không chịu ngẩng đầu nhìn ai, chỉ rúc đầu trong áo choàng lông trắng của Kiều Hà mà run rẩy. Có đại thần thấy tóc em thưa thớt vàng hoe, cười chê giễu, Tam nương liền cắn vào cánh tay đại thần, dùng đầu đẩy vị thần tử nhị phẩm, khiến cả phòng hoảng hốt, kéo mãi không nhả, chỉ thấy miệng em đầy máu, ch** n**c mắt không ngừng, cứ như người bị cắn là em. Đến khi bị Quận quân răn dạy, em mới thút tha thút thít nhả ra. Thế mới thấy tính tình Tam nương thô bạo, thay đổi thất thường, không phải người dịu dàng, càng không liên quan gì tới bốn chữ hiền lương thục đức.

 

Kiều Hà lạnh lùng thâm độc, trong triều phân nửa giận lắm mà không dám nói gì. Chiêu Thiên tử là một minh quân, biết rằng nếu để người như vậy làm Đế vương, sẽ khiến cả triều gặp cảnh mưa máu gió tanh, đẩy Đại Chiêu vừa mới dựng nước vào cảnh vạn kiếp bất phục, thế nên ngài chọn một trong số những người có phẩm hạnh tốt, từ khi sinh ra đã mang dị tượng – Công tử Mẫn Ngôn.

 

Công tử Mẫn Ngôn bằng tuổi Kiều Hà, vừa ra đời đã khiến cả phòng ngập trong ánh sáng, hương thơm tỏa ra mười dặm, mọi người trong quận đều tấm tắc khen lạ kì. Hễ ai đi ngang phủ đệ nhà y đều gặp may, vận may ấy kéo dài tới dăm ba tháng, khiến mọi người không khỏi đều cho rằng đây là tiên thai hạ phàm, người người đều yêu y kính y.

 

Công tử Mẫn Ngôn văn võ song toàn, bảy tuổi đã từng săn báo lấy mật, sau khi nướng lên lại ăn rồi nói: “Người đời thường ví thứ này cho sự lớn gan, nhưng nay ta ăn vào, dù ngon nhưng lại thấy mình không hề can đảm hơn, ngược lại thấy gan nhỏ đi.” Càng thể hiện thêm phần khí phách.

 

Mẫn Ngôn từ nhỏ đã có hành vi, ăn nói đặc biệt, ngoại hình phong thần tuấn lãng, đối nhân xử thế lại rộng lượng nhân ái, thể hiện rõ khí chất của một bậc minh quân, mỗi lần được đưa tới cố đô, quần thần đều vui mừng tung hô. Niềm vui của họ nói lên rằng, nhẫn nại lâu ngày, cuối cùng cũng có thể thoát khỏi Kiều Hà – kẻ khiến người khác không rét mà run, cuối cùng cũng có thể chờ được tín hiệu từ Chiêu Thiên tử.

 

Dù Chiêu Thiên tử không nói rõ nhưng quy chuẩn ăn mặc ngủ nghỉ của Mẫn Ngôn đều tương đương với Thái tử, thậm chí có phần cao hơn Kiều Hà nửa phần. Nhất thời, lưỡng long tranh đấu, cao thấp hiện ra, càng lộ rõ nhân phẩm thấp kém của Kiều Hà, còn Mẫn Ngôn lại càng được lòng người qua từng hành động, cử chỉ.

 

Kiều Hà là kẻ gian trá xấu xa, đang ở hạ phong, để khiến Mẫn Ngôn và Chiêu Thiên tử mất cảnh giác, ngược lại nảy ra một kế, chàng ta đã xin tứ hôn cho em gái út của mình là Tam nương với chính Mẫn Ngôn công tử. Không ngờ Chiêu Thiên tử lại đồng ý. Tính cách sự thô thiển của Kiều Tam nương tệ hại thế nào, Mẫn Ngôn cũng đã nghe tới từ lâu, dù không thể kháng chỉ, nhưng cũng muốn suy tính kĩ càng. Tính toán thế nào, ai ngờ lần trăn trở suy tính, nâng lên bỏ xuống, thuận theo rồi phá bỏ này đã gây náo loạn, từ đó ra đời một giai thoại thiên cổ .

 

Sân khấu chìm vào yên lặng, Tam nương trên Hề sơn nâng chén rượu uống cạn.

 

Lúc này một vũ cơ với dung mạo có nét anh khí nhập vai Mẫn Ngôn công tử một cách sống động. Đúng là một chàng thiếu niên mang nét u sầu, cử chỉ nhanh nhẹn, trong bóng đêm, dưới ánh trăng sáng, y lặng lẽ trèo qua bức tường màu trắng của nhà Kiều Thái úy.

 

Người đóng vai Mẫn Ngôn công tử có giọng hát rất hay, nhìn trăng mà hát khẽ: “Xưa nay anh hùng vốn sánh thuyền quyên, một ả thô kệch há xứng ngọc langLệnh vua truyền đến nhân gian, liền mang sầu khổ đổ đầy nước sông.”

 

Y mặc áo đen, bước qua nguyệt môn, đi tới hoa viên sau phủ Thái úy.

 

Nghe nói Kiều tam nương ở trong vườn hải đường tại hậu hoa viên, công tử liền mò mẫm trong tối đi về phía trước. Nhìn thấy một tấm biển, khắc lờ mờ ba chữ, trông cũng giống khuê các, chần chừ một hồi lâu, vẫn quyết định tiến vào.

 

Tam nương ngồi trên ghế khán giả, bỗng lấy khăn che miệng nôn khan. Chị mang vẻ vô cảm nhìn trên sân khấu, không nhúc nhích mà chỉ nhìn chằm chằm. Thúy Nguyên ở bên cạnh tưởng chị say rượu, lấy khăn lau mặt cho, nhưng càng lau càng ướt.

 

Trên sân khấu, Mẫn Ngôn công tử đã lặng lẽ bước lên lầu hai của khuê các.

 

Một bước, hai bước, ba bước, là hiền hay ngu, là đẹp hay xấu, ở nơi ánh nến còn cháy sáng, chỉ cần mở cửa sổ ra, có thể thấy rõ ràng. Công tử Mẫn Ngôn do dự mà bi thương, nghe theo lời đồn, vốn đã hình dung đó là nữ tữ thế nào, nhưng dù sao tâm đèn đã cháy hết, chỉ còn một hơi. Y chầm chậm mở cửa sổ ra.

 

Trước cửa sổ là một bức tự họa của một mỹ nhân. Mắt ngọc mày ngài, nụ cười dịu dàng. Đại Chiêu xưa nay có một tập tục, trước khi thành niên, treo bức tranh chủ nhân trong khuê phòng, có thể tránh tai ương.

 

Mẫn Ngôn nhìn thấy bức tranh, bỗng chuyển buồn thành vui, tâm tình phơi phới như thể trong trời tuyết rơi suốt ngàn vạn năm nay, sắp phủ kín nhân gian thì cuối cùng cũng dừng. Nữ tử trong phòng nhạy cảm, thấp giọng hỏi ‘ai đó’, vội vàng thổi tắt nến.

 

Nha hoàn bà vú vội vàng xúm vào, lao nhao hỏi tiểu thư sao rồi. Cô gái cất giọng dịu dàng, nhìn về phía cửa sổ, trong bóng tối khẽ thở dài. Ánh trăng chiếu xuống người Mẫn Ngôn, thiếu niên lang tay chân luống cuống, nhưng cử chỉ cũng mang vẻ phong nhã, chỉ đứng cách nàng trong gang tấc.

 

Bọn nha hoàn và bà già xúm lại, ồn ào hỏi tiểu thư ra sao. Cô gái giọng rất dịu dàng, nhìn về hướng cửa sổ, trong bóng tối khẽ thở dài. Ánh trăng chiếu lên người Mẫn Ngôn, chàng trai trẻ đầy vẻ lúng túng nhưng phong thái thanh tao, đứng chỉ cách cô gái trong gang tấc.

 

Cô gái ấy nghĩ mình gặp được người trong lòng, lại cho rằng chắc chắn đây chỉ là một giấc mộng xuân, vậy nên khẽ bảo: “Không có gì, chỉ là con mèo thôi, lui hết đi.”

 

Cả đời Mẫn Ngôn chưa từng thấy mừng rỡ đến thế. Bước khỏi viện kia, môi vẫn còn vương ý cười, theo ánh trăng, cuối cùng cũng có một chút ánh sáng, từ từ nhìn thấy ba chữ kia. Sau khi tuyết tan, trong khoảnh khắc, thế giới ấy đã trở về vẻ bẩn thỉu như ban đầu.

 

Mẫn Ngôn mắc bệnh, bệnh rất nặng, nguyên nhân là tâm bệnh, thế nên không thuốc chữa.

 

Dưới khán đài, Tam nương cúi đầu, thế nhưng vẫn cảm thấy đầu mũi cay cay, rất muốn khóc. Xông vào nhà người khác như thế, vào lúc người ta đang ngủ say, thay đổi vận mệnh của nàng, thay đổi giấc mộng của nàng, thay đổi cả thế giới của nàng, vậy mà sao hắn lại không chết? Sao hắn vẫn không chết?

 

Thúy Nguyên mím môi nhìn Tam nương, hắn vốn đang xem cảnh phong hoa tuyết nguyệt trên sân khấu, nhưng đảo mắt qua thấy thê tử đang đau khổ. Vợ hắn cũng họ Kiều.

 

Trên sân khấu, bệnh của Mẫn Ngôn đã kinh động đến Chiêu thiên tử. Thiên tử quan tâm lo lắng, gặng hỏi Mẫn Ngôn tại sao. Mẫn Ngôn một mực không nói, hồi lâu sau hạ nhân mới thưa, lúc ấy Thiên tử mới hay ban tối Mẫn Ngôn đã lén đi thăm dò vị hôn thê.

 

“Hài lòng không?” Lão thiên tử nở nụ cười, cho rằng Mẫn Ngôn còn nhỏ, chắc cậu trai trẻ này cảm thấy xấu hổ khó xử, nghĩ mãi thành bệnh nên mới ra thế này.

 

Nào ngờ Mẫn Ngôn yếu ớt là thế lại kiên quyết bảo: “Bệ hạ, cả đời thần tuyệt đối không có lòng nghĩ tới hoàng vị, cầu xin bệ hạ tha tội cho thần.”

 

Bấy giờ Chiêu thiên tử mới biết tình hình nghiêm trọng rồi, hỏi kĩ càng thì cuối cùng cậu thiếu niên mới chịu thừa nhận, khu vườn mà tối hôm đó y lạc vào không phải Hải đường viên, mà lại là Dung tê viên. Người ở trong vườn hôm đó cũng không phải Kiều Tam nương mà lại là biểu tỷ (chị họ) của nàng, con của cậu ruột.

 

Cô gái ấy họ Quy, dù gia đạo sa sút nhưng dung mạo tuyệt sắc, tính tình ôn hòa, trước nay luôn rất thân thiết với Kiều Tam nương. Chiêu thiên tử đã suy nghĩ rất lâu, vẫn chưa nghĩ ra được thượng sách vẹn toàn đôi bên thì ba mươi ba chư hầu và tộc Hung nô đã tới xâm phạm. Kiều Hà âm ngoan giả dối, muốn nhân cơ hội cướp binh quyền, lập tức thỉnh chỉ xuất chinh, lại còn nói rằng, nếu lần thắng lợi về triều, nguyện xin Thiên tử chủ trì hai hôn lễ.

 

Chiêu thiên tử hỏi là hai cái nào?

 

“Một là của thần muội và công tử, hai là của thần và Quy thị!”

 

Tiếng bầu rượu giòn tan vỡ quá chói tai đã dặp tan sự ồn ào xung quanh, cũng cắt ngang lời nói của Kiều quận quân. Tam nương trên Hề Sơn say khướt, đứng giữa mảnh vỡ màu hổ phách, lảo đảo chỉ vào chúng nhân, gò má đỏ hồng, mang ý cười thong thả nói rằng: “Ta biết sắp diễn đoạn nào rồi, ra biết! Để ta kể cho các vị nghe! Quy thị biết công tử Mẫn Ngôn có hi vọng được kế thừa đại thống, à không, phải là Quy thị sinh lòng yêu thương Mẫn Ngôn say đắm, sau khi dằn vặt đau khổ, không muốn gả cho Quận quân xấu xa hèn hạ kia, cuối cùng sai khiến nha hoàn mang tặng khăn tay cho Mẫn Ngôn, ký thác nỗi tương tư. Mẫn Ngôn vốn tưởng vô vọng, nay thấy khăn mới hiểu lòng tiểu thư, mừng rỡ khôn xiết, lòng quyết không phụ nàng, bẩm lên Thiên tử, một mực kiên trì xin từ hôn với Kiều Tam nương! Chiêu thiên tử là một vị vua nhân hậu, thương cháu yêu con, thấy Mẫn Ngôn công tử đang bệnh tật như thế, đành đồng ý với y. Thế nhưng vì chiến sự phương bắc đang căng thẳng, sợ tiểu nhân Kiều Hà vốn hay đa nghi sẽ bất mãn, bèn giấu nhẹm chuyện này. Kiều Tam nương bị hủy hôn, mất hết mặt mũi, trong lòng sinh hận, thừa lúc tối trời, hủy dung Quy thị, dìm xuống con sông trong thành. May sao, xưa nay Quy thị hiền hậu, có hạ nhân liều mình cứu, cả đêm chạy trốn tới am ni cô ngoài thành, từ đó ẩn tích mai danh.”

 

Quy thị mất tích, Mẫn Ngôn công tử cho rằng thị bị người của phủ Thái uy hãm hại, lòng bi thương tột cùng, chẳng còn thiết sống. Lúc này mật báo trong triều truyền đến, Quận quân Kiều Hà thông đồng với địch phản quốc, mưu đồ cấu kết với Đột quyết vương để cùng tấn công Hàm Dương, tự lập làm vương, cắt mười sáu nước để làm tạ lễ. Binh sĩ chạy về kinh báo tin là người duy nhất tìm được đường sống trong chỗ chết, từng lời của hắn đều khẩn thiết, câu  nào cũng thấm đẫm lệ rơi. Mẫn Ngôn công tử đau khổ vì mất đi giai nhân, nay nghe tới việc này, thù nhà hận nước đều dâng trào. Quốc dân Đại Chiêu nghe tới việc này, ai nấy đều căm phẫn, có kẻ trí giả căm hận cực kì, thậm chí còn làm tượng đất Kiều Hà để ngày ngày đánh roi, đêm đêm chửi mắng, vậy mà vẫn không thể hả giận. Tuổi tác Chiêu thiên tử đã cao, nay gặp phải biến cố này, tức đến nỗi đổ bệnh không dậy nổi. Giữa lúc mệnh nước gian nguy, Mẫn Ngôn triệu tập binh mã Đại Chiêu, giáp sắt ngựa chiến, dẫu phải vượt qua nghìn dặm cũng thề phải lấy được đầu Kiều Hà mang về. Đại Chiêu một lòng, Khả Hãn bộ tộc Bắc hung nô A Chi chỉ là đám quân ô hợp, bị đánh tan tác liên tục, Kiều Hà thấy tình hình không đúng, rơi vào đường cùng, đành phải tự sát.

 

Trưởng công chúa Hoa quốc vừa nghe Kiều Hà đã chết, tự xin phế làm thứ dân. Chiêu thiên tử biết con gái chưa từng tham dự chuyện phản nghịch, chỉ phế đi phong hào của bà, lệnh cả đời không được vào cung. Hoa quốc công chúa và Thái úy đi đón quan tài Kiều Hà, đệ nhất gian tặc, ngay cả ông trời cũng không chừa cho chút cốt nhục cuối cùng. Trời nắng gắt nhiều ngày liền, tháng bảy oi bức, tới khi mở quan tài thì… kẻ b*n n**c ấy… kẻ b*n n**c ấy đã không còn cốt nhục, đều bị tiêu tán, khi mở ra chỉ còn bãi máu.

 

Mẫn Ngôn đại thắng, khải hoàn hồi triều. Trên đường đi ngang qua am ni cô, trời bỗng đổ cơn mưa lành, y vào am trú mưa, cả người ướt đẫm, lặng lẽ ngắm mưa, bỗng nghe tiếng nức nở đằng sau. Y xoay người xem, là Quy thị bị hủy dung.

 

Nhưng công tử Mẫn Ngôn nào phải kẻ háo sắc chỉ coi trọng vẻ ngoài? Y vẫn yêu thương Quy thị như thuở đầu, không hề thay lòng đổi dạ vì dung mạo thị bị hủy hoại. Vốn Quy thị đã mang mệnh làm quốc mẫu, qua bao thăng trầm, khổ tận cam lai, ít ngày sau, lại có danh y phán rằng có thể trị được dung mạo này, chỉ là sau khi đắp thuốc phải tĩnh dưỡng, không được để ai nhìn thấy. Đương nhiên Mẫn Ngôn sẽ nghe theo, vội vàng chuẩn bị lễ cưới, bình thường chỉ ở ngoài cửa ân cần hỏi thăm mà thôi.

 

Lòng Kiều Tam nương rất oán hận, nhất định không chịu buông tay. Sau khi huynh trưởng qua đời, nàng như phát điên, cả ngày ở trong khuê phòng thêu áo cưới chẳng nói chẳng rằng, không ăn không uống, không ngủ không nghỉ. Hoa quốc công chúa thấy nàng như vậy, nghĩ tới nghiệt tử, cảm thấy thương tâm, trình tấu kể việc nhà, cũng chẳng rõ vì sao, Chiêu thiên tử lại hạ chỉ, gả Kiều Tam nương cho Mẫn Ngôn làm trắc phi, chọn ngày nhập phủ.

 

Kiều Tam nương tâm cơ sâu nặng, tội ác chất chồng, từ thê bị giáng thành thiếp, coi như là báo ứng. Nàng vốn không có mệnh làm quốc mẫu, dẫu có trăm phương nghìn kế cũng là dã tràng xe cát, uổng phí tâm cơ.

 

Vào đêm đại ngôn của Mẫn Ngôn công tử và Quy thị, khắp nơi trên dưới Bách quốc đều cực kì náo nhiệt, nếu Mẫn Ngôn là thánh nhân trong lòng dân chúng Đại Chiêu, thì thấy vị thánh nhân như vậy cưới một giai nhân tuyệt sắc, đức hạnh vẹn toàn như vậy khiến mọi người như thấy được cảnh Đại Chiêu hưng thịnh muôn đời, đồng thời tràn đầy khát vọng về một nhân gian phồn hoa như gấm.

 

Trước cửa phủ công tử, Mẫn Ngôn đang lo lắng đợi chờ, như chờ cả một đời, lúc này giờ đây mới nhìn có thể thấy được giai nhân bước ra từ trong bức họa. Thế nhưng lại có hai chiếc kiêu, từ hai hướng khác nhau được khiêng tới trước mặt Mẫn Ngôn.

 

Trong tiếng nhạc Thái Bình âm của Lạc Chính Thi du dương khắp nơi, khiến lòng người thư thái như gió xuân, tiếng kèn trống gõ rộn ràng, ở bên này, kiệu đỏ buông rèm, lụa đỏ tung bay, tiếng kèn nô nức nghe như một cảnh tượng đón gió xuân yên bình, một bước lên mây, con đường rải hoa; Còn ở phía bên kia, hai người kiệu phu lại dùng sợi dây thừng thô kệch, nâng chiếc kiệu hoa treo lụa trắng bụi bặm, đi rầm rầm trên cầu anh vũ.

 

Trong chiếc kiệu cô độc đó, có một cô nương mặc áo đỏ trên người, đầu đội khăn trắng, từ từ bước ra. Nàng độc ác xấu xí, đức hạnh tì vết. Nàng bị người ta nuôi như con mèo con chó, sống ngu xuẩn hám lợi như con chó con mèo. Ai đã dạy dỗ một đứa trẻ như vậy? Ai đã khiến nàng trở thành kẻ xấu xa hiếm thấy trên đời? Ai đã khiến trong tim nàng chỉ toàn là nọc độc như rắn rết?

 

Nàng là Kiều Tam nương được Kiều Hà nuôi lớn. Kiều Tam nương nói: “Vốn đã hạ sính, sao lại bội tín? Lệnh của huynh trưởng, không thể không nghe.”

 

Nửa năm trước, một trăm rương đồ cưới chất đầy phủ Thái úy, nay phủ đầy bụi.

 

Kiều Tam nương điên rồi, nàng không muốn làm thiếp.

 

Mẫn Ngôn biết ai đến, cực kì chán ghét, để tránh lỡ giờ lành, lệnh thị vệ kéo nàng đi.

 

Cô nương ấy, ở đằng sau lớp khăn như tuyết, nói: “Nay là ngày đại hỉ của quân, đặc biệt tới đây để chúc mừng.”

 

Mẫn Ngôn thấy thấp thoáng ánh bạc trong tay áo bằng gấm của nàng, nghe lời như vậy, lo nàng mưu hại Quy thị, lập tức đánh một chưởng vào ngực nàng.

 

Cô nương bị trúng chưởng, cả người loạng choạng, nhưng vẫn đứng thẳng tắp giữa đất trời, chưa từng lùi nửa bước. Nàng chầm chậm rút con dao găm, nhìn thế nhân bên ngoài tấm khăn trùm, rồi đâm thật mạnh vào lồng ngực mình. Sau khi tay buông thõng, cách lớp khăn, nàng nói với Mẫn Ngôn: “Công tử đại hỉ, nhất hỉ hoa chúc, nhị hỉ… nhị hỉ tang thê.”

 

Đại Chiêu có truyền thuyết rằng, nếu thấy máu trong hôn lễ thì là điềm đại hung, không ứng với nam thì cũng giáng vào nữ. Nhẹ thì bị thương, bong gân gãy xương, nặng thì rơi vào cảnh góa bụa ngay trong năm cưới xin, vĩnh biệt người thương.

 

Thật là một cô nương độc ác, đến phút cuối đời mà cũng làm ra được chuyện thiếu đạo đức nhất. Dẫu chết cũng không để ai được yên ổn. Nàng chỉ sợ Quy thị không thể bị tàn tật, chịu dày vò cả đời cũng không thể chết đi, mà cũng sợ Quy thị chết trễ quá, không thể khiến Mẫn Ngôn chịu cảnh mới cưới mất vợ, thống khổ cả đời.

 

Khi ấy đang tháng tám, trời đã vào thu, gió đêm thổi mạnh. Độc phụ ấy chết đi, chúng nhân vỗ tay khen hay, đều đồng loạt xúc động, phun nước bọt phỉ nhổ lên người con gái kia, như lúc quất roi vào tượng Kiều Hà khi trước. Ngay cả trời xanh cũng vui mừng quá đỗi, dốc lòng nổi gió để thổi bay từng tấc da thịt dơ bẩn, ác độc của nàng.

 

Gió cuốn bay tấm khăn phủ đầu nàng. Khăn ấy như một dải lụa tuyết bay lên hóa thành chim, tung cánh lên trời. Trên đuôi con chim kia có dính máu nàng, bùng lên thành ngọn lửa, bay rất cao rất xa, không ai chạm tới.

 

Tam nương đã say mèm, Thúy Nguyên không thể không kéo chị ra rời khỏi quán rượu, từ xa, mọi người vẫn còn nghe nàng nói: “Ta nhìn thấy, vị thánh nhân thiên hạ vô song Mẫn Ngôn ấy đang khóc, y khóc cơ đấy, haha, y khóc lóc, ôm cái xác mà khóc không kiềm được, thậm chí không ai đỡ dậy nổi. Thăng quan phát tài tang vợ, trước nay là ba niềm vui, vì sao y lại khóc? Khóc vì ai cơ chứ? Thế nhân này điên cả rồi! Khóc vì người không quen, khóc vì kẻ thù! A Nguyên, A Nguyên tốt của ta, gió lớn như vậy, ta cho rằng khăn sẽ bay rất cao rất sao, không bao giờ về nữa, vậy mà ta lại trơ mắt nhìn hắn phủ lên khuôn mặt của cô nương kia. Chàng biết vì sao không? Để ta nói cho chàng nghe, vì không có khăn che mặt thì làm sao một cô nương xấu xí có thể gặp người khác? Sau khi chết cũng không được yên ổn!”

 

Tam nương chân chính của Kiều gia đã bị những kẻ kia ầm ĩ khiến đầu đau, tim cũng đau, mơ hồ nhớ ra bức tranh mà biểu tỷ treo trước phòng kia, hình như chính là nàng. Có lẽ, đó là nàng trong hi vọng của ca ca. Sau đó, nàng lại vì kẻ khác, vì niềm hi vọng khác, biến thành dáng vẻ kia, rồi sau đó, cũng vì thất vọng mà lại quên đi bức chân dung ấy.”

 

Lớn tuổi rồi, chỉ cần nghe mấy bài ca, khúc nhạc, náo nhiệt một chút là đã tốt lắm rồi, còn chuyện xưa kia, cứ coi như xem cho vui. Đương nhiên, bánh bao,… từ nay về sau cũng không ăn nữa.

 

Năm đó, Kiều Thực đã quên tuổi của mình, vì năm đó nàng nhớ tới ca ca. Năm đó, Kiều Hà mười chín tuổi, vĩnh viễn ở tuổi mười chín, xương cốt chẳng còn.

 

***

 

 Năm Tề Minh thứ mười lăm,

 

Tra án ở âm ty, nửa đêm canh ba, gương sáng treo ở điện Tạ hầu.

 

Yến Nhị làm chủ thẩm, mang mặt nạ quỷ, vợ chồng Phù Tô cùng Tạ Do đứng bên cạnh nghe xét xử.

 

Dạ xoa áp giải một quỷ hồn già nhẹ hẫng mang tới

 

“Quỳ xuống, ngươi là ai?”

 

Quỷ hồn đó còng lưng, lớp da khô trên mặt trĩu xuống, con mắt đục ngầu, mới được giải lên từ tầng thứ mười lăm –Trách ngục. (*Nơi này sẽ dành cho những kẻ chuyên đào mộ, cướp mộ người khác. Hình phạt tại đây chính là phanh thây, xé xác thành nhiều mảnh vô cùng ghê rợn.)

 

“Lão nô là Kiều Bàng Sinh, làm vườn trong Khai quốc Thái Úy – Kiều phủ, chết năm Định Bảo thứ mười.” Giọng nói lão khàn đục khó nghe.

 

“Ngươi có biết vì sao bổn phủ bắt ngươi tới?” Giọng Yến nhị quý khí âm trầm, rất khác với ban ngày. Tay của y vẫn đang cầm kinh đường mộc. Bên dưới công đường, hắc bạch hai bên, ủng ngắn lưỡi dài, tay cầm xích nanh sói, đầu quỷ mặt quỷ. Cái đèn lồng đỏ bị gió âm thổi lay lắt, bỗng trong lòng lão quỷ Kiều Bàng Sinh dâng lên nỗi sợ.

 

“Lão nô cũng không biết.”

 

“Ngươi có biết Kiều Tam nương, nữ tử tên thật là Kiều Thực?”

 

“Đấy là Tam nương của chủ nhân lão nô, đương nhiên là biết.”

 

“Vậy ngươi có biết, nàng được chôn cất ở đây, vì sao từ khi chết đi tới giờ, vẫn không quay về âm ty?”

 

“Nàng ấy… được an táng ở dưới câu hải đường ở hậu hoa viên, là cái cây ở cạnh hồ sen (*). Cái chết trẻ của Tam cô nương là chuyện kín đáo, năm đó thi thể của nàng được Thái tử Mẫn Ngôn ôm về, Thái úy đại nhân liên tiếp mất một trai một gái, đau buồn quá mà sinh bệnh, công chúa dặn chúng nô tài hạ táng cho Tam cô nương, sau đó cũng lệnh cho cả nhà không nhắc tới nàng ấy nữa. Sau đó khi Lão Thiên tử băng hà, Thái tử thành Thiên tử, trước khi dời đô về Thái Bình thì năm nào cũng đến phủ cúng tế Tam nương.”

 

(*) Hà (荷) trong Kiều Hà nghĩa là (hoa) sen; Thực (植)trong Kiều Thực là thực vật, trồng trọt

 

“Ngươi còn nhớ chỗ đó không?”

 

“Đương nhiên là nhớ ạ.”

 

“Dẫn đường.”

 

Trong đêm đen đặc, hải đường say giấc, lũ quỷ l* m*ng này đến quấy rầy hồn hoa.

 

Cây hải đường mọc cạnh hồ nước trong xanh, thân to tán rậm.

 

“Đào.” Yến Nhị ra lệnh, đám quỷ tuân theo, bận bịu hồi lâu, cuối cùng cũng đã đào được một cỗ quan tài lớn bằng gỗ lum, mùi tanh tưởi trộn với bùi đất rất buồn nôn.

 

“Mở quan!”

 

Lão bộc Tạ Do trong phủ càng nhìn càng kinh nghi, nhớ tới chuyện xưa lập tức hoảng loạn, vội vàng xua tay: “Phán quan công tử, không được không được đâu! Chỗ này chôn người khác, chớ đừng làm bậy!”

 

“Lão à, chuyện này đã quấy nhiễu âm ty bao nhiêu năm, nếu hôm nay không chấm dứt, người sống ắt sẽ gặp tai họa.” Vị công tử áo đen mang mặt quỷ dịu giọng trấn an Tạ Do, nhưng vẻ mặt kiên quyết, không dễ bị thuyết phục. Chúng quỷ dạ xoa cùng dùng lực, cổ quan tài lập tức bị mở ra, trong khoảnh khắc đó, hào quang tỏa ra, rực rỡ tận trời, khiến lũ quỷ phải lùi lại mấy bước.

 

Yến nhị cười lạnh lùng, “Kiều Bàng Sinh, ngươi qua đây nhận xác đi, xem liệu đây có phải là nơi chôn cất Kiều Tam nương?”

 

Lão quỷ kia vẫn chắc chắn như đinh đóng cột: “Chính là Tam nương.”

 

Yến nhị cả giọng quát: “Còn dám mạnh miệng! Ngươi tưởng bản quan dễ lừa vậy sao! Dị tượng khi mở quan này chỉ có ở những vương hầu quan tướng được ghi chép công danh lúc còn sống. Hào quang tận trời, khiến chúng quỷ phải lùi về ba bước, nhất định là quân vương xuất thế. Xương chậu hẹp, hộp sọ to, rõ ràng là xương nam giới, xương tay hơi co nhẹ, các khe xương lồng ngực giòn, rõ ràng là dấu hiệu tuổi già, đây là nơi chôn cất một vị Thiên tử chết già, không phải Kiều thị Tam nương!”

 

Lão quỷ cúi đầu, dập mạnh trán xuống đất, không nói một lời.

 

Tạ Do thấy không thể giấu nổi, thở dài nói: “Chỉ có các đời Thiên tử mới biết, Thái tông được chôn cất ở đây, còn trong Thái lăng chỉ có một huyệt rỗng. Hơn ba trăm năm qua Tạ gia ta chưa từng suy bại, cũng vì có liên quan đến điều này. Giữ mộ suốt ba trăm năm nay, an an ổn ổn, có lẽ năm nay là tận số kiếp rồi.”

 

Chúng quỷ cả kinh, không ngờ Mẫn Ngôn đại đế tiếng tăm lừng lẫy lại là bộ hài cốt trước mặt, không phải ở nơi dựa núi sông, không có đồ bồi táng, chỉ một bộ xương trắng cô độc lẻ loi, khiến người ta khó mà tưởng tượng được.

 

“Hơn ba trăm năm qua, ngươi ở Trách ngục chịu đủ mọi nỗi khổ lăng trì vậy mà vẫn  không chịu khai thật hay sao?” Ánh mắt Yến Nhị bất thình lình trở nên giận dữ, nhìn quỷ hồn Kiều Bàng Sinh.

 

Khi còn sống mà đào mộ người thì sẽ phải xuống tầng mười lăm – Trách ngục.(* Trách cũng có nghĩa là xé xác, phanh thây)

 

Cả người Kiều Bàng Sinh cháy đen, ngẩng đầu, phẫn nộ biện bạch: “Ta chỉ tuân theo ý nguyện của Thái úy Đại nhân, đưa ái nữ của ông ấy rời khỏi mộ này, có chỗ nào sai? Còn về sau đó có chuyện gì, vì sao Thiên tử lại được chôn cất ở đây, chiếm vị trí của Tam nương, lão nơ nào hay biết?”

 

“Thái úy dặn ngươi lúc nào, vì sao lại dời thi hài của Tam nương đi, có mục đích gì?”

 

“Kể từ sau khi Tam nương chết đi, Thái úy nhự bị trúng tà, ngày nào cũng nhốt mình trong thư phòng để tính toán. Tới một ngày ông ấy bất ngờ đẩy cửa ra, cười ha hả, râu tóc đã bạc phơ nhưng trên người như đã giải thoát khỏi đau khổ. Ngày cưỡi ngựa vào cung, xin Lão Thiên tử một tờ ý chỉ, nói rằng Thiên nợ ông ấy, Thiên tử không trách tội Thái úy, chỉ khoát tay cho ngài ấy xuất cung. Về tới nhà, đến nửa đêm, ông ấy ra lệnh cho đám lão nô họ Kiều tầm thường mà tận tâm như chúng ta đào thi hài của Tam nương lên, nghe theo chỉ thị của ông ấy, đưa ra khỏi Huy thành bằng xe ngựa. Đêm hôm đó, sương mù dày đặc nhưng chúng ta đi đường lại không tốn tí sức nào, lộc cà lộc cộc mà đi cả ngàn dặm, tới một nơi đen kịt tối tăm, như lời Thái Úy đã nói từ trước, một người câm khắc bia, còn ta cõng thi thể của Tam nương chôn xuống. Xong xuôi hết thảy mọi việc, chúng ta mệt mỏi không còn tí sức lực, tới khi mở mắt ra thì không ngờ đã về lại Kiều phủ. Nếu như không phải có người cùng trao đổi tin với nhau, ta còn tưởng mình đã nằm mơ.”

 

“Ngươi đã khai ra hết mọi chuyện chưa?”

 

“Đúng vậy!” Lão quỷ nói năng quý hách, cõi lòng Yến nhị như sắt lạnh, nhưng nay bị lửa nung búa dập, thầm cảm thấy vẫn còn chân tướng khúc mắc nào đó cần y tháo gỡ, điều đó như là một phần của tính mạng y. Y bất động như núi, âm trầm nhìn Kiều Bàng Sinh, ra lệnh cho quỷ dạ xoa: “Lại đưa Hoa quốc trưởng công chúa tới!”

 

Lảo quỷ không giấu nổi vẻ cả kinh, nhưng sau đó nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.

 

Gió âm nổi lên, mọi người chưa kịp hoàn hồn thì nghe một tiếng lục lạc lanh lảnh, đi mỗi bước một gần, nhưng chẳng thấy bóng dáng.

 

“Thành thị đang ở đâu?” Yến nhịn nhìn đại điện trống không.

 

“Bổn điện đây.” Tiếng lục lạc ngưng, một giọng nữ nhẹ nhàng nhuốm màu tang thương vang lên giữa điện.

 

“Sao không hiện hình?” Yến nhị hỏi.

 

“Ta chỉ là một sợi tàn hồn, dạo khắp âm dương, bản thể đã đầu thai nhân thế từ lâu.” Giọng nữ trả lời.

 

“Vì sao bà còn ở đây?”

 

“Ta… đang tìm nơi con ta chôn cất, đến nay vẫn chẳng tăm hơi.” Người nữ thở dài.

 

Hề Sơn quân khẽ nhích người, đôi mắt Phù Tô càng thêm sâu.

 

“Chẳng phải Kiều quận quân đã hóa thành một vũng máu rồi sao?”

 

“Không phải con ta, chỉ là thuật che mắt thôi.”

 

“Sao bà lại biết?”

 

“Gia tướng Tạ Quý mang quan tài về, đã từng mật báo với ta.”

 

Yến Nhị bỗng thấy đầu đau như búa bổ, có rất nhiều hỉnh ảnh bất ngờ lóe lên, thần lực nuôi dưỡng linh thức, hình như có rất nhiều thứ sắp trở lại.

 

“Bà có biết việc Kiều Thực bị dời mộ không?” Y lại hỏi, muốn tìm hiểu nguyên nhân vấn đề này.

 

“Biết.” Giọng nữ bình tĩnh trả lời, nhưng trong đó có phảng phất mang vẻ hả hê, “Kiều Ngũ muốn giấu ta, nhưng sao mà giấu được? Năm đó ông ta vốn định cứu tiện nhân Đại Quy thị kia, lại chưa từng thành công, sau đó tiểu tiện nhân của họ Quy kia nhân lúc tên tiện chủng Mẫn Ngôn kia đắc thế mà âm thầm câu kết giở trò, nửa đêm trốn khỏi phủ ta. Ta chỉ hận tại sao năm đó không giết hết cả nhà Quy thị, để lại thứ nghiệp chướng này, hại con ta tạo phản vì nó, xương cốt chẳng còn. Sau đó Kiều Ngũ còn muốn dùng âm pháp để tiếp tục cứu sống con gái Quy thị, sao ta há có thể để ông ta được toại nguyện?”

 

“Bà đã làm gì?” Yến Nhị cảm thấy trán mình hơi nóng, cảm thấy rất khổ sở, lại chẳng biết nguyên nhân từ đâu.

 

Bà ta phá ra cười ha hả, thế nhưng tiếng cười kia lại rộng tuếch, chẳng ai cảm thấy bà ta thật sự vui sướng. Bà nói: “Ta sai tên làm vườn lúc chôn cất lần nữa thì rạch nát mặt của nó, để nó và con ta không thể nhận nhau; lệnh cho hắn rút lưỡi của nó, nhét vỏ trấu vào miệng, không để nó kể ra oan tình của mình tới con ta! Trong thiên hạ này, người thật lòng tốt với con ta, ngoài trừ ta, chỉ có nó. Lúc con ta chết, nó ngồi dưới tàng cây ch** n**c mắt ba ngày ba đêm, về sau nước mắt biến thành máu, thấm hết vào ngọc bội mà con ta từng đưa cho nó. Ngọc bội đó là noãn ngọc được phụ hoàng ta ban tặng lúc con ta sinh ra đời, đục từ thiên thạch, như một thần khí, tượng trưng cho thân phận con ta. Con ta lại đưa cho tiểu muội muội của mình, có lẽ trong lòng vốn đã có dự định, đến khi tiểu muội muội được gả vào phủ Mẫn Ngôn, con ta sẽ từ bỏ giang sơn, thần phục Mẫn Ngôn. Thế nhưng thứ tiện chủng kia lại vẫn không buông tha con ta!” Bà nghiến răng, khàn cả giọng.

 

Kiều Bàng Sinh run lẩy bẩy, sợ hãi quỳ sụp, điên cuồng đập đầu: “Phán gia gia tha mạng! Lão nô chỉ là nghe theo mệnh lệnh của Công chúa, nhất thời hồ đồ mới gây ra đại họa…”

 

Yến Nhị cảm thấy không thể nổi, mãi lâu vẫn không nói thành lời. Lũ quỷ hồn đều nhìn y, không biết vì sao. Rất lâu sau, tay y run rẩy, mở mặt nạ quỷ ra. Một khuôn mặt mang bệnh đã lâu, mồ hôi đầm đìa xuất hiện, ở dưới ánh trăng trông càng tái nhợt. Y nhẹ nhàng hỏi: “Trưởng công chúa, rốt cuộc Kiều Thực có oan tình gì?’

 

Yếnn Nhị thấy nghẹt thở, không thốt thành lời. Quỷ hồn đều nhìn y, chẳng rõ vì sao. Hồi lâu sau, y tay run rẩy, gỡ mặt nạ quỷ. Khuôn mặt bệnh tật mồ hôi đầm đìa, dưới ánh trăng càng thêm tái nhợt. Y nhẹ nhàng hỏi:

 

“Trưởng công chúa, Kiều Thực rốt cuộc mang oan tình gì?”

 

Y hỏi quỷ hồn trong không khí, nhưng quỷ hồn kia như có toan tính gì, im lặng không nói một lời.

 

Yến nhị nở nụ cười, trên khuôn mặt tái nhợt ửng hồng lạ thường, y hỏi:: “Công chúa có muốn biết, Kiều quận quân đã chết ở đâu hay không?”

 

Hề Sơn quân bỗng ngẩng phắt đầu, nhìn Yến Nhị.

 

Công chúa chỉ cười lạnh, “Con ta là kì tài ngút trời, sao lại chết trong tay tiểu nhân Mẫn Ngôn kia được chứ? Nhưng khi đó chúng nhân một lời, ta có tra cũng chẳng tìm ra.”

 

Yến Nhị cười khổ, con mắt âm lãnh nhìn lên ánh trăng, trong mắt mang vẻ ẩn nhẫn: “Năm đời của ta đều là Tể tướng, đồi thứ nhất là thời Thái Tông, là Hữu tướng Kỳ Hằng. Vừa rồi ngũ tạng ta như vừa bị tẩy rửa, trí nhớ kiếp trước đã quay trở về.”

 

“Thì có làm sao? Kỳ Hằng chỉ nổi danh sau khi con ta chết, ngươi nhất định không thể biết được chuyện trước đây của con ta.”

 

Giọng Yến Nhị khàn khàn, y ngây dại nhìn qua Hề Sơn quân, trong mắt như vừa không thể tin nổi, cũng vừa như rất khổ sở. Y nói: “Vậy để ta kể lại chuyện trước đây, cũng mời công chúa tự phân biệt thật giả, xem ta có lừa ai không.”

 

“Chư hầu Bắc Bộ liên minh Đột quyết, tạo thành thế bao vây đối kháng với nam bắc Đại Chiêu. Quận quân xuất phát từ Huy Thành, đánh từ Nam tới Bắc Đột quyết, ba mươi ba chư hầu đều hàng phục, tin chiến thắng liên tục truyền về, lúc đó, uy vọng trong quân rất cao, trước nay khó có ai sánh bằng. Trên dưới trong quân khi ấy đều một lòng, khí thế hừng hực, chỉ trong vòng ba tháng đã đánh tan quân Bắc Đột quyết, thậm chí còn đánh thẳng tới kinh đô Hốt Nhiên Hiệt của chúng. Khả hãn của tộc Hung nô A Chi viết hàng thư cầu hòa, nguyện triều cống hằng năm, dâng tặng Đại Chiêu một nửa gianag sơn, chỉ cầu bảo vệ được bản thân. Kiều Hà xử lý tàn cục sau trận chiến, thu xếp cho bách tính. Tổ tiên của Tạ hầu chính là Tạ Quý, khi ấy là thân tín của Kiều Hà, mang binh hồi kinh báo tin. Mẫn Ngôn dùng vị trí hầu tước sẽ được thừa kế không giảm để mua chuộc Tạ Quý, đổi hàng thư thành chứng cứ vu cáo Kiều Hà thông đồng với địch phản quốc. Mẫn Ngôn và A Chi bí mật cấu kết, cuối cùng đạt được hiệp nghị, sau khi Mẫn Ngôn đăng cơ sẽ trả lại một nửa giang sơn mà Kiều Hà đã đánh chiếm được của Bắc Đột Quyết, chỉ vì muốn A Chi làm giả thư từ qua lại với Kiều Hà, dâng toàn bộ lên cho Thái Tổ. Cả nước oán hận, Kiều Hà chịu tiếng xuất muôn đời, mãi không thể trở mình, Mẫn Ngôn lại tiếp tục lợi dụng thời cơ để diệt trừ Kiều Hà, tất thảy mọi thứ đều diễn ra vô cùng thuận lợi.”

 

“Mẫn Ngôn và vị hôn thê của Kiều quận quân – Quy thị đã lén qua lại từ sớm, hắn xin từ hôn để cưới Quy thị. Ban đầu Thiên tử không đồng ý, nhưng vì ngài sinh cảnh giác với Kiều quận quân, do dự rồi cũng đồng ý, nhưng sợ nhiễu loạn chiến sự tiền phương nên không chỉ bí mật với nhau. Sau đó cũng vì nguyên nhân Quận quân chịu tội thông đồng với địch phản quốc, Thiên tử nổi giận, lập tức ban xuống hai đạo thánh chỉ; Thứ nhất: lập Mẫn Ngôn làm thái tử; Thử hai: tứ hôn Mẫn Ngôn và Quy thị. Khắp thiên hạ đều hay biết. Lúc này ngài đã hoàn toàn mất đi từ tâm, coi Quận quân là kẻ thù cướp thiên hạ.”

 

“Mẫn Ngôn tính đến chuyện này, vốn dĩ muốn ép Quận quân tạo phản thật, sau đó hắn sẽ mang binh bình định, như vậy oan khuất của Quận quân đời này sẽ không thể nào rửa sạch, bèn lệnh Tạ Quý sao chép thánh chỉ báo cho Quận quân. Ấy nhưng tạo hóa trêu ngươi, trời khi ấy rét buốt, các tướng sĩ đang vui chiến thắng, đang định xuất phát, khải hoàn trở về. Nhưng lúc này bệnh hàn của Quận quân lại tái phát, ngày tốt ngày xấu, Tạ Quý mang bùa đòi mạng tới, Quận quân đọc chiếu thư, trong đêm hôm đó sốt cao không hạ, chỉ trong vòng hai ngày ngắn ngủi mà qua đời. Tạ gia hưng thịnh nhiều đời, thánh sủng không ngớt, hết thảy đều vì nhược điểm vạch trần bí mật của Thái tông mà Tạ Quý nắm trong tay. Mà nhược điểm ấy cũng chính là hàng thư có đóng dấu của Khả hãn Bắc đột quyết, một thư khác xin giao nộp mười sáu thành trì. Các vị thiên tử đời sau của Thái Tông cũng biết chân tướng chuyện này, ai cũng bất an, chỉ sợ bí mật này sẽ lộ ra ngoài, vì thế luôn hết mực hậu đãi Tạ phủ, cũng cực kì kiêng kỵ.

 

“Những chuyện này đều là nhờ ta sắp xếp mật thám ở khắp nơi trong triều sau khi căn cơ vững chắc, tìm được thư tín mà Mẫn Ngôn và Tạ Quý trao đổi với nhau trước đây, suy đoán ra.”

 

Yến Nhị quay đầu nhìn Tạ Do: “Lão nhân gia, có phải những điều ta vừa nói chính là bí mật được chôn giấu suốt nhiều năm của Tạ môn? Sau khi Quận quân mất đi, Mẫn Ngôn đã từng lùng sục kiếm thư hàng ấy khắp nơi mà vẫn không tìm được. Hai phong thư ấy, hẳn vẫn còn an toàn ở Tạ Phủ đúng không?”

 

Tạ Do đã trả qua quá nhiều, cảm xúc chẳng may may dao động, gật đầu nói: “Phán quan đại nhân nói không sai. Dù hôm nay Đại nhân không nói, ta cũng sẽ nói hết mọi chân tướng. Trước khi chết Hầu gia từng nói, cuộc đời này luôn cực kì khinh thường tổ tiên. Gia tài Tạ phủ có một nửa là kế đất ba mươi ba thành, đều là tài sản của riêng Kiều quận quân, năm đó tổ tiên Tạ Quý ngầm chiếm đoạt, sau đó Tạ nha nhờ vào đó để phát tài. Nay ta đã ngoài tám mươi, cũng không hề có nửa phần giấu giếm, nói ra những điều này chỉ vì muốn an ủi anh linh Hầu gia. Mong công chúa tin tưởng.”

 

Hồn phách công chúa dần hiện ra, là một bà lão tóc bạc trắng, không còn mang dáng vẻ cao cao tại thượng năm đó. Bà ngửa mặt nhìn trời cười vang, mặt đầy nước mắt: “Tốt! Tốt! Tốt lắm! Ta biết là con ta chưa từng phản bội Đại Chiêu mà, lúc lâm châm nó đã nói ra những lời đó, sao có thể là loạn thần tặc tử? Lão già Kiều Ngũ giỏi lắm, dạy dỗ cho ta một cặp trai gái trúng hiếu lễ nghịa như vậy! Ta có lỗi với đứa con đáng thương ấy, Tam nương đáng thương của ta!”

 

Bà ta gào khóc lớn, đứng giữa điện gọi to: “Tam nương con ta, con có nghe rõ chưa, ca ca con chưa từng làm phản chưa từng! Nó không đáng bị người đời đánh chửi, con cũng không nên bị người đời phỉ nhổ! Tam nương, con ta, là mẫu thân có lỗi với con, là do mẫu thân bức tử con!”

 

Hề Sơn quân đứng một bên, khuôn mặt vẫn không thay đổi, nhưng nước mắt đã rơi lã chã.

 

“Rốt cuộc vì sao Tam nương lại chết?” Yến Nhị lẳng lặng nhìn Hề Sơn quân, nàng từng hỏi y, có từng thích một cô nương nào không. Khi ấy y từng nói chắc như đinh đóng cột rằng chưa từng, cũng sẽ không bao giờ. Thế nhưng y đã từng có một kiếp làm tể tướng, từng vẽ hình dáng cô nương ấy. Y đã cực kì yêu cô nương ấy, thà rằng hướng đạo tu hành. Chỉ y không thể nói với người ngoài nguyên do y không thể cưới công chúa si tình kia. Không phải vì công chúa không tốt, chỉ là y quá tội nghiệp cho chính mình, tội nghiệp cho chút tình mọn kia. Có lẽ Thanh Thành điện hạ đã yêu bảy mươi năm, nhưng y, đã tròn ba trăm năm ròng.

 

“Tạ Quý mang về hai câu di ngôn của con ta. Trong đó một câu dành cho Tam nương. Ta khi đó rất hận Đại Quy thị, thương cho con ta chết thảm, chỉ muốn khiến Tam nương cũng chết theo để giải tỏa đau khổ trong lòng ta. Vì thế đã đổi một chút trong di ngôn con ta, nói với Tam nương.”

 

“Bà đã sửa gì?”

 

“Tam nương, chết có ích gì, sống có ích gì?”

 

Tam nương à, ngươi chết đi đương nhiên chẳng ích gì, nhưng sống tiếp thì cũng có ý nghĩa chi đây?

 

“Sau đó, Tam nương nàng…”

 

“Tam nương đã chết trên cầu anh vũ.”

 

Ba trăm linh bảy năm về trước, bên ngoài biên ải gió rét thấu xương, khói lửa ngợp trời.

 

Mười vạn quân sĩ mang cờ vương quân đã hành quân suốt ba ngày ba đêm, men theo bờ sông Khố Nhĩ, mặt ai cũng nghiêm trọng. Trong lúc hành quân, ngoài tiếng chân bước đều đặn, không có bất kì tiếng động nào khác. Cuối cùng mặt trời cũng ngả về tây, tiếng kèn vang lên thổi thật dài lệnh đoàn quân uốn lượn nghỉ tạm trong ánh chiều ta dần trở nên nhập nhoạng.

 

Bên trong một quân trướng tím thẫm thêu hình phượng xanh trên đỉnh, một thiếu niên mặc áo lông trắng, chưa đến tuổi cập quán (*đội mũ) ngồi khoanh chân. Môi chàng trắng bệch, tóc mai đã ngả xám, bệnh đã rất nguy kịch, ngón tay trắng nõn thon dài của chàng v**t v* quân cờ màu đen. Dưới chân chàng  là một vị tướng quân thiếu niên mặc khôi giáp đầy đủ, thân hình vạm vỡ đang quỳ.

 

“Tạ Quý,” Giọng chàng thiếu niên ôn hòa, như mang theo ý cười, nhưng cặp mắt kia lại chẳng có chút vui vẻ.

 

“Có mạt tướng.” Tướng quân thiếu niên cúi đầu.

 

“Thái y chính nói thế nào?”

 

“Mạt tướng… mạt tướng chưa kịp hỏi rõ.”

 

“Là chưa kịp hỏi rõ hay không dám nói?” Thiếu niên cười nhạt, giữa đôi mày chàng chỉ toàn là vẻ mỏi mệt, nay nỏ mạnh hết đà, không thể tỏa sáng, hỏi gã: “Lúc nào? Hôm nay hay ngày mai?”

 

Ngón tay Tạ Quý run rẩy. Chủ công của gã không hỏi về hôm nay hay ngày mai nào khác, mà là hỏi chính tử kỳ của mình.

 

Chàng đang hỏi gã, chết hôm nay hay ngày mai?

 

Tạ Quý dập đầu xuống đất, hít một hơi sâu, cắn răng thưa: “Thái y chính nói, nói rằng, Điện hạ chậm nhất là không qua… không qua nổi nửa đêm nay.”

 

Thiếu niên nghe xong, không buồn không vui, ánh mắt dần mất đi sức sống, chàng mỉm cười nói: “Lúc ấy, sao trời chắc đều xuất hiện rồi? Ta trở về nơi đây, coi như cũng hoàn thành một tâm nguyện, không đến mức bị nghiệp chướng kia oán trách, nói mọi chuyện ta kể đều là lừa gạt con bé.” Chàng lấy một cái khăn tay từ trong tay áo bạc, đặt trên môi ho khan một cái, máu chảy ra không ngăn kịp, chảy từ lòng bàn tay loang lên cái áo sạch sẽ của chàng.

 

Chàng tiện tay ném khăn ra, như thể không hề để ý, thật ra, từng khi chàng nhận được hai thánh chỉ truyền từ trong kinh ra, chàng đã không còn muốn để ý gì. Vốn có thể chống đỡ cả tháng, trở về kinh rồi lo liệu đám ma cho mình, thế nhưng giờ đây giờ hối hả quá, chẳng kịp làm gì.

 

Chàng dặn: “Tạ Quý, ngươi nghe cho kỹ, ta có hai chuyện, hai câu muốn dặn với ngươi.”

 

Tạ Quý nghẹn ngào gật đầu, không nói nổi một câu an ủi.

 

“Chuyện thứ nhất, ta đánh từ Huy thành thẳng tới Bắc Đột quyết, hàng phục ba mươi ba chư hầu, ba mươi ba đô thành dọc đường, mỗi lần tới chỗ nào đều mua đất đai, cửa hàng, châu bảo, nữ trang, ngươi giao hết tất cả cho người nên giao, hãy đưa con bé rời xa nơi thị phi; Chuyện thứ hai, bổn quân sống không phản triều, chết không được chôn ở Chiêu, vậy nên khỏi cần lập bia, không cần để chữ, cũng chẳng cần cúng tế. Cứ để thân xác này chôn vùi ở nơi đất hoang vô chủ, làm một linh hồn vô chủ cũng được.”

 

“Điện hạ!”

 

Thiếu niên cười nhạt, như không hề nghe thấy, lại tiếp: “Còn hai câu này, ngươi cũng phải nhớ kỹ.”

 

Màn đêm buông xuống, những ngôi sao của nước Thái Bình trên trời sáng lấp lánh.

 

Chàng thiếu niên mặc áo lông trắng nhìn về phía chân trời, mang theo ý cười nhẹ nhàng man mát như bạc hà, đôi mắt vì bị hàn độc giày vò đến biến dạng nay cũng có chút ánh sáng.

 

Chàng v**t v* quân cờ nhỏ màu đen trên tay, mang theo nụ cười cô đơn đứng ở phía cuối con đường cuộc đời: “Ngươi là ngọc ở Cô Sơn, tụ tinh hoa đất trời. Đã tung hoành ngang dọc, thành bại âu khó định. Nay hồn phách bản quân sắp tan, thôi cũng đành theo mệnh. Cờ ơi cờ à, nếu ngươi có linh, mong rằng sở học cả đời của ta, sẽ hóa thành thân ngươi, giúp ngươi thành tể tướng năm đời, giúp ta thu phục trên dưới Bách Hoa quốc, ổn định giang sơn, báo quốc thương dân, hoàn thành tâm nguyện của ta.” Chàng lại nói, “Tạ Quý, ta còn haia câu nói, ngươi hãy nhớ kỹ.”

 

“Điện hạ xin nói.”

 

“Một là nói với Thiên tử, đời này của Hà, chưa một ngày phụ ngoại tổ, ngoại tổ phụ ta; Hai là ngươi hãy nói cho ái muội A Thực của ta, nhất định phải khiến con bé nhớ kỹ – Tam nương, sống có ích gì, chết có ích gì?”

 

Tam nương à, mặc dù em sống không có bao nhiêu ý nghĩa, thế nhưng vì tưởng niệm huynh trưởng mà chết đi, thì cũng có thể thay đổi gì đâu? Thế nên, xin em nhất định, nhất định phải sống thật tốt.

 

Ta cẩn thận vun tưới, khắc khoải đợi mong từng ngày, tận lực như vậy, trồng được một cây Kiều mộc vươn tận trời xanh (*), Nỡ lòng nào nhìn thấy một mai em ung dung bước vào chỗ chết?

 

(*) Câu gốc:成参天的木 – Trồng (*Thực) được cây lớn (*Kiều mộc) vươn tận trời xanh. Trong câu này có tên của Kiều Thực, cũng là ý nghĩa của tên nàng.

 

Ta từng hạ ba mươi ba thành để làm đồ cưới, chuẩn bị gả đi viên ngọc giá trị liên thành trong tay.

 

Chỉ thương cho cô bé của ta, huynh trưởng đưa dâu bỗng chết trên lưng ngựa.

 

Thật ra, chúng ta đều từng được như ý nguyện.